Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một chủ trương đúng đắn của Đảng trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, đây cũng là phương hướng quan trọng để thực hiện chiến lược phát triển con người, phát huy nội lực con người, đưa những giá trị văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, đến từng cá nhân, gia đình, tập thể, khu dân cư, cộng đồng, lan tỏa đến mọi lĩnh vực sinh hoạt và các mối quan hệ, nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam nhân văn, dân chủ, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ảnh: Một góc làng quê Việt Nam với nhà văn hóa và sân đình, thể hiện sự gắn kết giữa văn hóa và cộng đồng
Mục Lục
1. Khái niệm về đời sống văn hóa
Trong quá trình hình thành và phát triển, con người đã sáng tạo ra văn hóa. Văn hóa giúp loài người tiến bộ vượt bậc. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tác động vào việc hình thành và tái tạo con người. Nền văn hóa Việt Nam ngày càng phong phú, đa dạng với những truyền thống quý báu được hun đúc từ ngàn đời, được bảo tồn, gìn giữ và phát triển đến ngày nay. Văn hóa được thể hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống xã hội, trong giá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong lịch sử.
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần trên cơ sở vật chất. Cụm từ “đời sống văn hoá” được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX, tiền thân là cụm từ “đời sống mới” trong bài viết năm 1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh trình độ dân trí còn thấp, Bác Hồ đã dùng từ “mới” thay cho “văn hoá” để người dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá. “Đời sống mới” là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng đời sống văn hóa sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Đến những năm 80 của thế kỷ XX, Đảng, Nhà nước vẫn sử dụng từ “mới” trong chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá, được hiểu là kết tinh hàm lượng văn hoá, tri thức, cách tổ chức, giá trị mới trong xây dựng nếp sống, văn hoá và con người.
Năm 1987, cuốn sách Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam luận giải: “Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con người”.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Thức trong cuốn sách Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng – văn hóa:
Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người.
Tuy nhiên, quan niệm này có phạm vi quá rộng, khó xác định cho việc triển khai xây dựng đời sống văn hóa gắn với không gian, lĩnh vực cụ thể. Theo Đại từ điển của Nguyễn Như Ý, nghĩa hẹp của đời sống văn hóa là:
Sự hoạt động của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu giữ và tiêu thụ những công trình khoa học văn hóa (sản phẩm văn hóa). Quá trình này biến các giá trị văn hóa tiềm tàng thành những giá trị văn hóa hiện thực, đi vào đời sống hàng ngày của mọi người, trở thành một bộ phận không thể tách rời, một thành tố thiết yếu của đời sống.
Ảnh: Người dân tham gia hoạt động văn nghệ quần chúng, thể hiện sự hưởng thụ và sáng tạo văn hóa trong cộng đồng
Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa. Nội hàm của đời sống văn hoá tương đối rộng, đề cập đến những điều kiện, những hành vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu trong từng hoàn cảnh cụ thể. Để có một quan niệm hoàn chỉnh hơn, cần tiếp cận đời sống văn hoá trong toàn bộ đời sống xã hội, khu biệt và giới hạn lĩnh vực sáng tạo văn hoá trên cơ sở quan niệm văn hoá theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp.
Nói đến đời sống văn hóa là nói đến hoạt động của con người làm nên đời sống tinh thần của xã hội. “Đời sống” là “hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” (Nguyễn Như Ý). Đời sống của con người bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan mật thiết với nhau, như: đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… Đời sống văn hóa là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.
Trong một số công trình nghiên cứu, Hoàng Vinh cho rằng đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội. Đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Trong đó, các hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu tinh thần, làm cho con người tồn tại với tư cách là một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa. Xã hội càng tiến hóa, nhu cầu văn hóa và sự đáp ứng nhu cầu đó càng cao, thể hiện trình độ phát triển của con người. Các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người chính là hoạt động văn hóa.
Như vậy, có thể hiểu: Đời sống văn hóa chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hóa trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hóa và sự giao lưu văn hóa, nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của một cộng đồng. Hay nói cách khác, nó thuộc đời sống xã hội, trong đó diễn ra các hoạt động văn hóa. Con người là chủ thể thông qua các hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa, cũng là chủ thể tiêu dùng các sản phẩm đó, bảo quản và truyền bá văn hóa. Như vậy, con người là một dạng sản phẩm văn hóa cao cấp, bởi chính hoạt động văn hóa đã làm hoàn thiện bản chất người.
2. Khái niệm về đời sống văn hóa cơ sở và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở được coi là bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, có nhiều cách hiểu về đời sống văn hóa cơ sở. Việc xác định đúng đắn khái niệm này không hề đơn giản, các nhà nghiên cứu có những quan niệm khác nhau dựa trên những căn cứ, góc độ và mục đích riêng. Thuật ngữ “Đời sống văn hóa ở cơ sở” được sử dụng trong ngành văn hóa từ năm 1982, nhưng không phải ai cũng có một quan niệm thống nhất. Vì vậy, cần làm rõ nghĩa của thuật ngữ này trước khi đi sâu vào các vấn đề tiếp theo. Thuật ngữ “Đời sống văn hóa cơ sở” được ghép bởi hai khái niệm: Đời sống văn hóa và cơ sở.
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Nhu cầu vật chất giúp con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần giúp con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa.
“Đơn vị” là yếu tố làm thành một chỉnh thể, trong mối quan hệ với chỉnh thể ấy. “Cơ sở” hàm chứa nhiều nghĩa, được dùng ít nhất trên ba phương diện:
- Cơ sở là những gì căn bản, làm nền, làm gốc, làm căn cứ chính cho một lĩnh vực hoạt động, hay một tri thức nào đó. Ví dụ: cơ sở lý luận, cơ sở văn hóa, cơ sở vật chất…
- Cơ sở là một địa điểm, địa chỉ, tụ điểm trung tâm… diễn ra một loại hình hoạt động nào đó về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Ví dụ: cơ sở hoạt động cách mạng, cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo, cơ sở văn hóa, cơ sở y tế…
- Cơ sở là một địa bàn, một đơn vị hành chính, một tổ chức… có cơ cấu hoàn chỉnh ở cấp cuối cùng của một hệ thống. Ví dụ: Đảng bộ cơ sở, Đoàn cơ sở, Công đoàn cơ sở hay đơn vị hành chính cấp cơ sở… Ở Việt Nam, bộ máy tổ chức quản lý nói chung được tổ chức theo 4 cấp: Trung ương – Tỉnh (thành phố) – Quận (huyện) và Xã (phường, thị trấn).
Đơn vị “cơ sở” là hình thức tổ chức cơ bản của văn hóa, là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần diễn ra trong đời sống hàng ngày. Ngành VHTT thường tập trung vào việc xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn cơ sở (theo phân cấp hành chính), cho nên lý luận phương pháp công tác cũng chỉ mới nói đến việc xây dựng đời sống văn hóa theo địa bàn. Trong trường hợp này, “cơ sở” mang ý nghĩa thứ ba, được hiểu là một địa bàn, địa điểm cụ thể, gắn với một đơn vị hành chính cơ bản hoặc một đơn vị cụ thể của một tổ chức chính trị xã hội.
Ảnh: Một buổi sinh hoạt văn hóa tại nhà văn hóa thôn, thể hiện vai trò của thiết chế văn hóa trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Từ đó, có thể xác định “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, được đặt ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ V (1982). Đây là chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống và con người phù hợp với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII có đoạn viết:
Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo đảm nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường, ấp, đều có đời sống văn hóa.
Theo tinh thần văn kiện của Đảng và Chính phủ, ngành văn hóa đã có những giải pháp tích cực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa ở cơ sở. Từ đó đến nay, những công việc tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở lúc nào cũng được đặt thành công tác trọng tâm của ngành văn hóa. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa ra ba chương trình công tác có mục tiêu cấp nhà nước và đã được Chính phủ thông qua, ghi vào kế hoạch thực hiện từ năm 1994 trở đi. Điều này chứng tỏ: Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một chủ trương mang tính chiến lược lâu dài, thực hiện suốt trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng văn hóa để nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình trong việc tổ chức các hoạt động văn hóa, sáng tạo văn hóa và hưởng thụ văn hóa.
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là xây dựng mạng lưới thiết chế văn hóa, tạo nên một cảnh quan văn hóa truyền thống, mang đặc trưng kiến trúc của thời đại mới vừa dân tộc, vừa hiện đại, góp phần xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế chung của đất nước và mỗi địa phương.
Là một công việc quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống, con người trong thời đại mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở thực hiện nhiệm vụ đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống, làm cho văn hóa ngày càng trở thành yếu tố khăng khít của đời sống xã hội, nhằm hình thành nếp sống và các chuẩn mực đạo đức, tạo ra môi trường lành mạnh để người dân tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa.
