Thơ trào phúng Việt Nam là một dòng chảy văn học đặc sắc, nơi các nhà thơ sử dụng tiếng cười để phản ánh hiện thực xã hội, châm biếm thói hư tật xấu và gửi gắm những trăn trở về vận mệnh đất nước. Từ những bậc tiền bối như Nguyễn Khuyến, Tú Xương đến các tác giả đương đại, tiếng cười trào phúng đã trở thành một vũ khí lợi hại, góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm nền văn học dân tộc.
Nhắc đến thơ trào phúng, không thể không nhắc đến cụ Nguyễn Khuyến (1835-1909), một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông được xem là người đặt nền móng cho dòng thơ trào phúng hiện đại với những vần thơ thâm trầm, kín đáo, nhưng lại chứa đựng nỗi đau đời sâu sắc. Giữa bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Khuyến đã chọn cách giữ gìn khí tiết, không hợp tác với giặc.
Câu chuyện về lần ông được mời đến trình diện công sứ Hà Nam là một minh chứng cho sự thông minh và bản lĩnh của nhà thơ. Thay vì cúi đầu chào viên công sứ, Nguyễn Khuyến lại vái mấy cây cột và nói “Lạy cụ lớn ạ!”. Hành động này không chỉ khiến mọi người bật cười mà còn là một sự phản kháng sâu sắc, thể hiện thái độ khinh bỉ đối với chính quyền thực dân.
Bài thơ Hội Tây của Nguyễn Khuyến cũng là một tác phẩm trào phúng tiêu biểu, khắc họa chân thực cảnh tượng nhố nhăng, lố bịch của xã hội thuộc địa:
“Bà quan tênh nghếch xem bơi trải
Thằng bé lom khom ghé hát chèo
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo”
Những câu thơ này không chỉ mang đến tiếng cười mà còn gợi lên nỗi tủi nhục, đớn đau khi nhìn lại một giai đoạn lịch sử bi đát của đất nước.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến
Tiếp nối truyền thống của Nguyễn Khuyến, nhà thơ Tú Xương (1870-1907) đã làm nên một diện mạo mới cho thơ trào phúng Việt Nam. Ông được mệnh danh là “ông trùm” của thơ trào phúng với những vần thơ sâu cay, đả kích trực diện vào những thói hư tật xấu của xã hội.
Tài năng của Tú Xương đã được người đời công nhận và truyền tụng: “Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”. Thậm chí, người ta còn cho rằng đất Nam Định có hai đặc sản: “Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự”.
Thơ Tú Xương phản ánh một cách chân thực và sinh động những nhố nhăng của xã hội giao thời Pháp – Việt. Bài thơ tả cảnh lễ xướng danh khoa thi năm 1897 là một ví dụ điển hình:
“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Cờ kéo rợp trời quan sứ đến
Váy lê quét đất mụ đầm ra
Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”
Những câu thơ này không chỉ mang đến tiếng cười chua xót mà còn thể hiện nỗi xót xa cho vận mệnh đất nước.
Tú Xương có ảnh hưởng lớn đến các thế hệ nhà thơ sau này. Nhiều người đã lấy chữ “Tú” của ông để đặt bút danh, như Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Xơn (Phan Khôi), Tú Nạc, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Da…
Nhà thơ Tú Xương
Trong số các “môn đệ” của Tú Xương, Tú Mỡ (1900-1976) là người kế thừa và phát huy xuất sắc tinh thần trào phúng của thầy. Ông đã xây dựng một phong cách thơ trào phúng độc đáo, kết hợp giữa cái hay của các bậc tiền bối và những yếu tố của ca dao, tục ngữ dân gian. Đặc biệt, Tú Mỡ nổi tiếng với những bài thơ châm biếm các ông nghị “gật”, một đề tài mà trước và sau ông chưa có ai vượt qua được.
Đoạn thơ miêu tả cảnh khuếch trương của các ông nghị trước kỳ bầu cử là một ví dụ tiêu biểu cho phong cách trào phúng của Tú Mỡ:
“Lẳng lặng mà nghe họ diễn thuyết
Công tâm, công ích, lời tâm huyết
Phen này mở hiệu viết văn thuê
Dẫu chẳng làm giàu cũng đỡ kiết
Họ quẳng tiền ra để cạnh tranh
Nghe đâu mỗi vé một “rồng xanh”
Phen này có lẽ mưa ra bạc
Mà nghị viên ta khỏi phỗng sành” (Bầu cử)
Ngoài Tú Mỡ, còn có Kép Trà (1873-1923), một nhà thơ trào phúng nổi tiếng đến từ Lý Nhân, Hà Nam. Ngòi bút của ông tập trung phê phán những quan tham nhũng nhiễu. Sự kiện Kép Trà công khai tấn công bọn “áo mão” mị dân trong lễ kỷ niệm Nguyễn Du năm 1924 đã gây tiếng vang lớn trong dư luận.
Bài thơ Hỏi cụ Tiên Điền của Kép Trà thuật lại buổi lễ đó bằng những vần thơ châm biếm sâu sắc:
“Mấy chị đào non cười khúc khích
Một đoàn mặt trắng huýt lung tung
Tiên Điền, cụ hỡi hay chăng tá?
Giỗ cụ, hương trầm bỗng thối hung”
Phan Điện (1874-1945) là một cây cười tiêu biểu của Hà Tĩnh. Giống như Tú Xương, dù văn hay chữ tốt nhưng ông lại không đỗ đạt vì phạm trường quy. Phan Điện được biết đến là người đầu tiên dám cười vua bù nhìn Bảo Đại.
Bài thơ Vì ai? của Phan Điện phê phán sâu cay sự kiện vua Bảo Đại đi qua huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, khiến dân chúng chen lấn xô đẩy làm đổ tường, đè chết trẻ em:
“Xiếc vùng Đức Thọ có vui không?
Cóc nhái hôm nay được thấy rồng!
Gái đạo phát tài cười tủm tỉm
Trai lương phải tội chạy long đong
Mề – đay xiết kể ơn hoàng thượng
Tường đổ thương thay lũ tiểu đồng
Đố biết vì ai nên nỗi thế?
Vì quan sở tại khéo tâng công!”
Đến với xứ Huế mộng mơ, không thể không nhắc đến Nguyễn Khoa Vy (1881-1968), một nhà thơ trào phúng nổi tiếng của đất Thần kinh. Thơ của ông mang đậm phong cách kín đáo, tế nhị của người Huế.
Những câu thơ của Nguyễn Khoa Vy viết về Huế thời thuộc địa đã trở thành bất hủ: “Núi Ngự không cây cu ngủ đất/ Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời!”.
Tương truyền, khi còn nhỏ, Nguyễn Khoa Vy đã từng lẻn vào Tịnh tâm hái trộm trái cây và gặp vua Thành Thái. Vua ra đề thử tài, Nguyễn Khoa Vy làm thơ xong được vua khen hay và thưởng cho vài chiếc kẹo. Khi bị lính bắt vì tội vô lễ, ông đã đọc bài thơ tạ tội:
“Đang nghịch không ngờ lại gặp vua
Còng lưng mà chạy rớt càng cua
Bây giờ lại được vua ban thưởng
Cảm tạ đâu nào dám “bonjour”!” (Không đề)
Vượt qua đèo Hải Vân, đến với Quảng Nam, ta lại gặp Tú Quỳ (1828-1926). Thơ trào phúng của ông tập trung đả kích cường hào ác bá và bài trừ mê tín dị đoan.
Bài thơ Vịnh con bò của Tú Quỳ là một sự chửi xéo độc đáo vào những tên Việt gian cộng tác với giặc Pháp:
“Vũ trụ không qua đồng cỏ tốt
Sơn hà khó sánh miếng ăn no
Thâm sơn ruộng thẳm dơ lưng cạch
Cắm cổ lôi cày mặc kẻ lo”
Ở phương Nam, Phan Văn Trị (1830-1910) là một nhà thơ trào phúng có bản sắc độc đáo. Ông không khoan nhượng đả kích cái xấu, sự lươn lẹo của bọn Việt gian nịnh bợ giặc Pháp.
Bài thơ Hát bội của Phan Văn Trị là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của ông:
“Đứa ghẻ ruồi, đứa lác voi
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc
Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi
Trên đỉnh có nhà còn lợp lọng
Dưới chơn không ngựa lại giơ roi
Hèn chi chúng nói bội là bạc
Bôi mặt đánh nhau cú lại thoi”
Học Lạc (1842-1915) cũng là một nhà thơ trào phúng nổi tiếng ở Nam Bộ. Dù học giỏi nhưng thi không đậu, ông bỏ về Mỹ Tho học nghề làm thuốc Bắc kiếm sống. Ngòi bút của ông tấn công bọn hương chức tham nhũng qua các bài thơ vịnh Con tôm, Con trâu, Con chó chết trôi…
Bài thơ viết về Ông làng hát bội của Học Lạc là một ví dụ tiêu biểu cho phong cách trào phúng của ông:
“Trong bụng trống trơn, mang cổ giữa
Trên đầu trọc lóc, bịt khăn ngang
Vào buồng gọi tổ, châu đầu lạy
Ra rạp rằng con, nịt thắt mang”
Sau năm 1945, ở miền Bắc xuất hiện nhiều cây thơ trào phúng như Xích Điểu, Thợ Rèn, Nguyễn Đình, Sĩ Giang, Lã Vọng, Búa Đanh, Huyền Thanh, Chính Nghĩa, Búa Tạ, Đặc Công… Thơ của họ tập trung xây dựng lối sống mới và đánh kẻ thù xâm lược.
Nhà thơ Xích Điểu (1913-2003) nổi tiếng với những bài thơ châm biếm kẻ thù và phê phán những tiêu cực trong xã hội. Bài thơ Chống tiêu cực làng ta của ông là một ví dụ:
“Tưởng đâu thuở trước bọn văn nô
Rơi rớt thời nay vẫn sót lò
Anh bảo bút đây vì tập thể
Thật ra bút bợ cá nhân to
Bút bic anh xài đỏ đỏ đen
Tô màu thành tích nỏ cần xem
Chỉ cần đối tượng anh tâng bốc
Luôn nhớ anh bằng những tiếng khen”
Nhà thơ trào phúng Thợ Rèn (1923-2008) tự nhận viết trào phúng để phục vụ nhiệm vụ chính trị và phê phán cái xấu trong nội bộ. Bài thơ Tết Tây của Thợ Rèn là một tác phẩm tiêu biểu:
“Chúc trước tết Tây để tết ta
Các quan liêm chính bớt ăn quà
Nể lòng cấp dưới nên khôn nỡ
Lòng vả lòng sung ta với ta
Gần tết ngược xuôi khắp mọi miền
Xe hơi rầm rập phố Trường Yên
Thời trân thức thức trên xe ấy
Biết chở về đâu? Lẽ tất nhiên!”
Ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, có một số cây bút trào phúng như Tú Trọc, Hà Thượng Nhân, Cả Tếu, Ch. Số Zách, Trạng Đớp, Tú Kếu, Cung Văn, Tú Ngang… Thơ của họ có lúc dám cà khịa cả chính quyền Sài Gòn và không bỏ qua các sự kiện thời sự.
Dù chưa thể giới thiệu hết những gương mặt tiêu biểu của thơ trào phúng Việt Nam trong thế kỷ XX, nhưng qua những tác phẩm đã được nhắc đến, ta có thể thấy được sự phong phú, đa dạng và sức sống mãnh liệt của dòng thơ này. Tiếng cười trào phúng không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là một công cụ đấu tranh, một phương tiện để phản ánh và phê phán xã hội, góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
