Châu Phi Hạ Sahara là một khu vực địa lý rộng lớn nằm ở phía nam sa mạc Sahara, bao gồm các quốc gia châu Phi nằm hoàn toàn hoặc một phần ở phía nam sa mạc này. Khu vực này đối lập với Bắc Phi, vốn được xem là một phần của thế giới Ả Rập. Vậy Châu Phi Hạ Sahara có gì đặc biệt? Hãy cùng khám phá sâu hơn về địa lý, lịch sử, văn hóa và kinh tế của khu vực này.
Sahel là vùng chuyển tiếp giữa sa mạc Sahara và các thảo nguyên nhiệt đới (vùng Sudan) và rừng-thảo nguyên hỗn hợp ở phía nam. Sừng châu Phi và các vùng rộng lớn của Sudan về mặt địa lý thuộc châu Phi Hạ Sahara, nhưng lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Trung Đông và cũng được coi là một phần của thế giới Ả Rập.
Vùng Hạ Sahara còn được gọi là Châu Phi da đen, do phần lớn cư dân ở đây là người gốc Phi. Các nhà bình luận Ả Rập thời Trung Cổ cũng sử dụng thuật ngữ tương tự, “bilâd as-sûdân”, có nghĩa là “vùng đất của người da đen”, để phân biệt với dân cư của thế giới Hồi giáo cổ đại.
Mục Lục
Địa Lý và Khí Hậu Đa Dạng
Châu Phi Hạ Sahara có diện tích khoảng 24,3 triệu km². Sự phân chia giữa Sahara và Hạ Sahara đã hình thành từ khoảng 5.400 năm trước do khí hậu khắc nghiệt và dân cư thưa thớt của Sahara. Sông Nile ở Sudan là con đường kết nối hiếm hoi giữa hai khu vực, mặc dù cũng bị gián đoạn bởi các thác nước.
Lý thuyết “Bơm Sahara” giải thích cách thực vật và động vật (bao gồm cả con người) di cư từ Châu Phi vào Trung Đông, sau đó đến Châu Âu và Châu Á. Các giai đoạn mưa ở Châu Phi gắn liền với chu kỳ “Sahara ẩm ướt”, tạo ra các hồ lớn và sông ngòi.
Các Vùng Khí Hậu và Sinh Thái
Châu Phi Hạ Sahara có vô số vùng khí hậu và quần xã sinh vật đa dạng. Nam Phi và Cộng hòa Dân chủ Congo đặc biệt nổi tiếng với sự phong phú sinh học.
-
Sahel: Vùng này trải dài qua châu Phi ở vĩ độ khoảng 10° đến 15° Bắc. Các quốc gia như Mali, Niger, Tchad và Sudan có phần lãnh thổ thuộc Sahara ở phía bắc và Sahel ở phía nam.
-
Savanna: Phía nam Sahel là một vành đai savanna rộng lớn (Guinean forest-savanna mosaic, Northern Congolian forest-savanna mosaic), bao gồm phần lớn miền Nam Sudan và Ethiopia (Savanna Đông Sudan).
-
Sừng châu Phi: Khu vực này có các vùng bán sa mạc khô cằn ven biển, tương phản với savanna và rừng cây lá rộng ẩm ướt trong nội địa Ethiopia.
-
Rừng mưa nhiệt đới: Rừng mưa nhiệt đới châu Phi trải dài dọc theo bờ biển phía nam Tây Phi và gần như toàn bộ Trung Phi (Congo), phía tây Hồ Lớn châu Phi.
-
Rừng Đông Miombo: Vùng sinh thái này nằm ở Tanzania, Malawi và Mozambique.
-
Hệ sinh thái Serengeti: Nằm ở tây bắc Tanzania và kéo dài đến tây nam Kenya.
-
Lòng chảo Kalahari: Bao gồm sa mạc Kalahari và vành đai bán sa mạc Bushveld, một vùng sinh thái savanna nhiệt đới ở miền Nam châu Phi.
-
Karoo: Một bán sa mạc ở phía tây Nam Phi.
Lịch Sử Phong Phú và Đa Dạng
Tiền Sử
Đông Phi được xem là cái nôi của loài người. Người tinh khôn xuất hiện khoảng 250.000 năm trước và bắt đầu di cư khắp châu Phi, đến Nam Phi và Tây Phi, trước khi rời khỏi châu Phi khoảng 70.000 năm trước.
Cuộc mở rộng Bantu là một cuộc di cư lớn bắt nguồn từ Tây Phi khoảng 2500 trước Công Nguyên, đến Đông và Trung Phi vào năm 1000 trước Công Nguyên và Nam Phi trong những thế kỷ đầu tiên của Công Nguyên.
Sau khi Sahara trở thành sa mạc, nó vẫn không phải là một rào cản hoàn toàn. Con người đã biết cách mang theo nước, lương thực và đồ dùng cần thiết để vượt qua sa mạc. Trước khi lạc đà xuất hiện, việc sử dụng bò để vượt sa mạc là phổ biến, và các tuyến đường thương mại dọc theo các ốc đảo đã kéo dài qua sa mạc. Lạc đà được cho là đã được đưa đến Ai Cập sau khi Đế chế Ba Tư chinh phục Ai Cập năm 525 trước Công Nguyên, nhưng phải đến thế kỷ thứ 7, việc sử dụng lạc đà mới trở nên phổ biến đủ để tạo ra một con đường thương mại xuyên Sahara.
Đông Phi
Sự phân bố của hệ ngôn ngữ Nilo-Sahara cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa trung Sahara, Sahel và Đông Phi từ thời tiền sử. Nubia cổ có thể đã đóng vai trò là cầu nối giữa Ai Cập cổ đại và châu Phi Hạ Sahara. Kush, ở giai đoạn hùng mạnh nhất, được coi là nền văn minh đô thị cổ nhất của châu Phi Hạ Sahara, đồng thời là nguồn cung cấp vàng lớn cho thế giới cổ đại.
Đế chế Axumite trải dài từ phía nam Sahara và Sahel dọc theo bờ biển phía tây của Biển Đỏ. Nằm ở phía bắc Ethiopia và Eritrea, Aksum tham gia sâu vào mạng lưới thương mại giữa Ấn Độ và Địa Trung Hải. Xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ IV trước Công Nguyên, nó phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ thứ nhất của Công Nguyên. Kế tục nó là triều đại Zagwe ở thế kỷ thứ X.
Nhiều phần phía tây bắc Somalia nằm dưới sự kiểm soát của Đế chế Ethiopia ở thế kỷ XIV, cho đến khi một cuộc nổi dậy của Imam Ahmad ibn Ibrihim al-Ghazi dẫn đến cuộc xâm lược Ethiopia vào năm 1527. Triều đại Ajuran đã cai trị nhiều vùng của Đông Phi từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XX.
Sự gần gũi của Kenya với Bán đảo Ả Rập đã tạo điều kiện cho quá trình thực dân hóa, với các khu định cư Ả Rập và Ba Tư xuất hiện dọc theo bờ biển vào thế kỷ VII. Trong thiên niên kỷ đầu tiên của Công Nguyên, các bộ tộc nói ngôn ngữ Nilotic và Bantu đã di cư vào khu vực này, và người Bantu hiện chiếm ba phần tư dân số Kenya. Trước thời kỳ thực dân hóa, bờ biển Swahili của Kenya là một phần của khu vực Đông Phi có quan hệ thương mại với thế giới Ả Rập và Ấn Độ, đặc biệt là buôn bán ngà voi và nô lệ. Swahili, một ngôn ngữ Bantu với nhiều từ mượn từ tiếng Ả Rập, Ba Tư và các ngôn ngữ Trung Đông và Nam Á khác, đã phát triển như một ngôn ngữ chung cho thương mại giữa các tộc người khác nhau.
Năm 1498, Vasco da Gama trở thành người châu Âu đầu tiên đến bờ biển Đông Phi, và đến năm 1525, người Bồ Đào Nha đã chinh phục toàn bộ bờ biển. Sự cai trị của Bồ Đào Nha kéo dài đến đầu thế kỷ XVII, khi người Ả Rập từ Oman đã thiết lập được cơ sở vững chắc trong khu vực. Với sự hỗ trợ của người Ả Rập Oman, cư dân bản địa dọc bờ biển đã thành công trong việc đánh đuổi người Bồ Đào Nha khỏi khu vực phía bắc Sông Ruvuma vào đầu thế kỷ XVII.
Tây Phi
Văn hóa Nok được biết đến thông qua các tác phẩm điêu khắc đất nung được tìm thấy ở Nigeria, có niên đại từ khoảng năm 500 trước Công Nguyên đến năm 200 của Công Nguyên. Có một số vương quốc thời trung cổ ở phía nam Sahara và Sahel, dựa trên các tuyến đường thương mại xuyên Sahara, bao gồm Đế chế Ghana, Đế chế Mali, Đế chế Songhai, Đế chế Kanem và Đế chế Bornu. Đế chế Benin là một nhà nước tiền thuộc địa của Nigeria (1440-1897).
Các vương quốc Ifẹ và Oyo ở phía tây Nigeria trở nên hùng mạnh vào khoảng năm 700-900 và 1400. Vương quốc Benin, một vương quốc hùng mạnh khác ở phía tây nam Nigeria, phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. Ảnh hưởng của họ lan đến thành phố Eko, sau này được các thương nhân Bồ Đào Nha và những người châu Âu định cư đầu tiên đặt tên là Lagos. Vào thế kỷ XVIII, Oyo và liên minh Aro là trung tâm của hầu hết nô lệ được xuất khẩu từ Nigeria.
Sau các cuộc chiến tranh Napoleon, người Anh đã mở rộng thương mại với nội địa Nigeria. Năm 1885, người Anh tuyên bố khu vực Tây Phi thuộc ảnh hưởng của họ và được quốc tế công nhận. Năm 1900, lãnh thổ của công ty thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ Anh, và nước Anh đã củng cố quyền cai trị của mình trên một vùng lãnh thổ sẽ trở thành Nigeria hiện đại. Ngày 1 tháng 1 năm 1901, Nigeria trở thành một nhà nước bảo hộ thuộc Anh, một phần của Đế chế Anh, cường quốc mạnh nhất thế giới thời bấy giờ.
Trung Phi
Cuộc mở rộng Bantu có những bộ phận trung tâm đầu tiên ở Tây Phi, được chia thành nhóm Tây và Đông Bantu vào khoảng năm 1500 trước Công Nguyên. Nhóm Đông có trung tâm tại Urewe vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Một loạt các cuộc mở rộng về phía nam sau đó đã thành lập nên một hạt nhân của Congo vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Trong một động thái cuối cùng, cuộc mở rộng Bantu đã đến miền nam châu Phi vào thiên niên kỷ thứ nhất của Công Nguyên.
Miền Nam Châu Phi
Những khu định cư đầu tiên của những người nói tiếng Bantu, là những người chăn nuôi và trồng trọt thời đồ sắt, đã xuất hiện ở phía nam Sông Limpopo vào thế kỷ thứ IV hoặc thứ V (xem Mở rộng Bantu), thay thế và hấp thu các bộ tộc nói tiếng Khoi-San bản địa. Cuộc di cư chậm chạp về phía nam và những dụng cụ đồ sắt đầu tiên ở Tỉnh KwaZulu-Natal hiện nay được cho là có niên đại khoảng năm 1050. Nhóm ở xa nhất về phía nam là người Xhosa, ngôn ngữ của họ có pha trộn một số nét ngôn ngữ của người Khoi-San trước đó, đạt đến Fish River, ở Tỉnh Eastern Cape ngày nay.
Monomotapa là một vương quốc trung cổ (khoảng 1250-1629) thường trải dài giữa các con sông Zambezi và Limpopo ở miền Nam châu Phi, thuộc các quốc gia Zimbabwe và Mozambique ngày nay. Vương quốc này nổi tiếng với tàn tích của thủ đô cũ của họ tại Great Zimbabwe.
Năm 1487, Bartolomeu Dias trở thành người châu Âu đầu tiên đến mũi cực nam châu Phi. Năm 1652, một trạm tiếp tế được thành lập ở Mũi Hảo Vọng bởi Jan van Riebeeck thay mặt cho Công ty Đông Ấn Hà Lan. Trong hầu hết thế kỷ XVII và XVIII, các khu định cư thuộc Hà Lan dần mở rộng.
Anh Quốc đã chiếm vùng Mũi Hảo Vọng năm 1795, bề ngoài là để ngăn nó rơi vào tay người Pháp, nhưng cũng để tìm cách sử dụng Cape Town như một điểm dừng trên con đường tới Australia và Ấn Độ. Sau này, Anh trả lại nó cho Hà Lan năm 1803, nhưng ngay sau đó Công ty Đông Ấn Hà Lan đã tuyên bố phá sản, và người Anh sáp nhập Cape Colony năm 1806.
Vương quốc Zulu (1817-79) là một nhà nước bộ tộc ở phía nam châu Phi, ở nơi hiện là Kwa-Zulu, phía đông nam Nam Phi. Vương quốc nhỏ này trở nên nổi tiếng thế giới sau cuộc Chiến tranh Anh-Zulu.
Nhân Khẩu và Kinh Tế
Châu Phi Hạ Sahara là một trong những khu vực nghèo nhất trên thế giới, chịu ảnh hưởng nặng nề từ quản lý kinh tế yếu kém, tham nhũng và xung đột sắc tộc. Hầu hết các quốc gia ở đây đều là những nước kém phát triển (xem Kinh tế châu Phi). Các quốc gia châu Phi Hạ Sahara hợp thành các quốc gia ACP.
Bệnh sốt rét là một căn bệnh kinh niên ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Theo Ngân hàng Thế giới, GDP của khu vực đáng lẽ đã tăng 32% vào năm 2003 nếu bệnh dịch bị tiêu diệt vào năm 1960.
Dân số của châu Phi Hạ Sahara là khoảng 800 triệu người vào năm 2007, và tỷ lệ tăng trưởng hiện tại là khoảng 2,3%. Liên Hợp Quốc dự báo dân số của khu vực này sẽ đạt gần 1,5 tỷ người vào năm 2050.
Các quốc gia châu Phi Hạ Sahara đứng đầu trong danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ theo tỷ suất sinh, với 40 trong số 50 quốc gia đứng đầu có TFR lớn hơn 4 vào năm 2008. Tất cả các quốc gia đều ở trên mức trung bình của thế giới, ngoại trừ Nam Phi. Các chỉ số về tuổi thọ, suy dinh dưỡng, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và HIV/AIDS đều ở mức báo động. Hơn 40% dân số tại các quốc gia châu Phi Hạ Sahara trẻ hơn 15 tuổi, như tại Sudan, ngoại trừ Nam Phi.
Châu Phi Hạ Sahara có tỷ lệ tử vong trẻ em rất cao. Trong năm 2002, một trong sáu trẻ em (17%) chết trước khi lên 5 tuổi. Đến năm 2007, tỷ lệ này đã giảm xuống 16%, tương đương một trên bảy (15%). Nguyên nhân tử vong hàng đầu là sốt rét.
Kết Luận
Châu Phi Hạ Sahara là một khu vực đa dạng và phức tạp với lịch sử phong phú, văn hóa đa dạng và những thách thức kinh tế xã hội đáng kể. Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, khu vực này vẫn có tiềm năng phát triển to lớn và đóng vai trò quan trọng trong tương lai của thế giới.
