Ngũ Uẩn: Khám Phá Bản Chất và Con Đường Đoạn Tận Khổ Đau

Ngũ uẩn, bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức, là năm yếu tố cơ bản cấu thành nên một con người, một chúng sinh (1). Khi đề cập đến danh và sắc, sắc ám chỉ thân vật lý, trong khi danh bao gồm các yếu tố tâm lý như thọ, tưởng, hành và thức.

Để thấu hiểu (tuệ tri) (2) về ngũ uẩn, việc nắm vững ý nghĩa chính xác của chúng là vô cùng quan trọng. Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh chỉ ra rằng, khi ta “soi chiếu, thấy rõ năm uẩn đều là không” (chiếu kiến ngũ uẩn giai không), thì mọi khổ ách sẽ chấm dứt (độ nhất thiết khổ ách).

Uẩn (Khandha) là gì?

Khandha, dịch là “uẩn”, mang ý nghĩa là sự tập hợp, tích lũy theo từng loại, từng nhóm có cùng tính chất. Ví dụ, sắc uẩn là sự tập hợp của nhiều yếu tố sắc khác nhau. Ngài Cưu Ma La Thập dịch Khandha là “ấm”, có nghĩa là sự che đậy, ngăn cản việc nhận thức thực tại. Theo đó, năm ấm này che lấp, ngăn cản chúng sinh thấy rõ bản chất thật của các pháp.

Dù được hiểu theo nghĩa nào, cả hai đều đúng. Tuy nhiên, theo Nikaya, Đức Phật dạy: “Sắc tập khởi là sắc uẩn, thọ tập khởi là thọ uẩn, tưởng tập khởi là tưởng uẩn, hành tập khởi là hành uẩn, thức tập khởi là thức uẩn.” Ngài cũng dạy: “Hãy như thật liễu tri (3) sắc tập khởi và sắc đoạn diệt. Hãy như thật liễu tri thọ tập khởi và thọ đoạn diệt… thức tập khởi và thức đoạn diệt.”

Điều này cho thấy, có những yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành, thức chưa được gọi là uẩn, mà chỉ khi chúng tập khởi mới trở thành uẩn. Nói cách khác, nếu sắc được như thật liễu tri, nó là sắc như thật, thuộc về thế giới chân đế (paramattha). Đây là trạng thái khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức chưa tập khởi. “Có tập khởi mới có uẩn”. Sắc tập khởi là sắc được nhìn nhận thông qua thế giới khái niệm (paññatti), đã được nhào nặn bởi tư tưởng và cảm xúc chủ quan (biến kế sở chấp trong Duy Thức). Sự chồng chất này tạo nên uẩn, sự rối ren và phức tạp. Càng tập khởi, bản ngã càng được củng cố, sai lầm chồng chất sai lầm, che mờ cái thực, như thiền tông gọi là “đầu thượng trước đầu” hay “tuyết thượng gia sương”.

Sắc tập khởi chính là sắc sinh, sắc đoạn diệt là sắc diệt. Tương tự, thọ tập khởi là thọ sinh, thọ đoạn diệt là thọ diệt. Sắc và thọ bình thường của thân xác, cảm giác chúng ta sinh diệt theo quy luật tự nhiên, vốn vô thường, vô ngã, không gây ra khổ đau. Chỉ khi sắc tập khởi, do ta tự chế biến và chồng chất lên, bị hành (saṅkhāra) chi phối, tạo ra bản ngã, mới dẫn đến khổ. Do đó, người tu tuệ quán cần thấy rõ uẩn, thấy rõ sự sinh diệt của nó để giải thoát khỏi sinh tử khổ đau.

1. Sắc (Rūpa)

1.1. Sắc như thực sắc (Paramattha)

Sắc là yếu tố vật chất thuần túy, là sắc thân tứ đại, tổng hợp của những đặc tính luôn biến động. Thân sắc của mỗi chúng sinh thay đổi từng giây phút từ khi sinh ra đến khi chết đi. Các tế bào cơ thể liên tục sinh diệt, tế bào mới thay thế tế bào cũ. Không có gì là đứng yên và bất biến.

Về sắc, ta có:

  • 5 sắc thuộc thân (ngũ căn): Nhãn căn (mắt), nhĩ căn (tai), tỷ căn (mũi), thiệt căn (lưỡi), thân căn (thân). Mỗi căn có phù trần căn (phần thô bên ngoài) và tịnh sắc căn (phần vi tế bên trong, hệ thần kinh nhạy bén truyền thông tin lên não bộ).

  • 7 sắc đối tượng: Là đối tượng của ngũ căn.

    • Mắt thấy mọi vật (sắc tướng, cảnh quan, vũ trụ – sắc đối tượng).
    • Tai nghe mọi âm thanh (vật chất, sắc đối tượng).
    • Mũi ngửi hương (vật chất, sắc đối tượng).
    • Lưỡi nếm vị (vật chất, sắc đối tượng).
    • Thân xúc chạm đất, lửa, gió (sắc đối tượng).

Thân chỉ xúc chạm được những gì thô ráp, cứng (đất), nóng, lạnh (lửa), rung động (gió). Nước có tính kết dính nên thân không xúc chạm được.

Như vậy, thân xúc có ba đối tượng: đất, lửa, gió (thô sắc), còn nước thuộc tế sắc. Ngũ căn có bảy sắc đối tượng: sắc, thanh, hương, vị, đất, lửa, gió.

12 sắc này đều thay đổi, vô thường, vô ngã. Dù Phật, thánh nhân hay phàm phu đều có 12 sắc này, giống nhau, không khác. Đây là sắc như thực sắc, sắc chưa tập khởi, sắc của thế giới chưa bị khái niệm, nhận thức, lý trí hay tình cảm chủ quan xen vào.

1.2. Sắc uẩn

Trong 12 sắc ấy, nếu 5 sắc căn bị chấp thủ là “ta” và 7 sắc đối tượng bị chấp thủ là “của ta” thì chúng đã biến thành sắc uẩn. Ví dụ:

  • Khi mắt nhìn một bông hoa, ta không nhìn nó như một bông hoa (sắc như thực) mà chất chồng lên nó vô số khái niệm: hoa đỏ, hoa vàng, hoa đẹp, hoa xấu, hoa có giá trị, hoa không có giá trị… Chính những khái niệm này phủ chụp lên cái hoa thực, tạo thành sắc tập khởi, sắc uẩn.
  • Khi tai nghe âm thanh, ta không nghe nó như một âm thanh (sắc như thực) mà chất chồng lên nó những khái niệm như cao, thấp, trầm, bổng, réo rắt, thê lương… Chính những khái niệm chủ quan này chế biến, đẻ ra, phủ chụp lên cái âm thanh thực, tạo thành sắc tập khởi, sắc (thanh) uẩn.

Tương tự với mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm. Nếu ta không thấy rõ như thực mà để tình cảm, lý trí xen vào, chúng đều biến thành sắc uẩn do “biến kế sở chấp” (Duy Thức).

1.3. Sắc uẩn có thể đoạn tận

Sắc uẩn không có trong thế giới tự nhiên mà chỉ có trong tình cảm và lý trí chủ quan của người mê, khởi sinh chấp trước.

Ví dụ, hôm qua tôi cãi nhau với một người nên giận nhau. Sáng nay, người ấy đến xin lỗi, nhưng vừa nhìn thấy mặt người ấy, hình ảnh khuôn mặt ngày hôm qua hiện ra, khiến tôi nổi giận. Hóa ra, tôi đã lấy khuôn mặt (sắc) của anh ta ngày hôm qua để chồng lên khuôn mặt anh ta hôm nay (sắc uẩn), nên đâm ra giận ghét. Vậy thì rõ ràng, tôi giận ghét cái không thật có, vì hôm qua đã qua rồi. Còn hôm nay, con người anh ta, khuôn mặt (sắc) anh ta đang mới mẻ hiện tiền thì tôi không thấy. Nếu hiện quán, minh sát, trở lại với “thực tại đang là” thì uẩn kia liền chấm dứt, chấm dứt luôn cả giận tức.

2. Thọ (Vedanā)

Thọ là nhận lãnh, thu nạp, cảm giác.

  • 2 thọ: khổ, lạc.
  • 3 thọ: khổ, lạc, xả.
  • 5 thọ: khổ, lạc, xả, ưu, hỷ.
  • 6 thọ: 6 thọ đi ngang qua 6 căn (nhãn thọ, nhĩ thọ…).

Ta khảo sát 3 thọ khổ, lạc, xả, vì ưu chỉ là khổ trong tâm, hỷ là lạc trong tâm, có tính chất tương tự.

2.1. Thọ như thực thọ

      1. Khổ thọ (dukkhavedanā):

Là cảm giác thực xảy ra nơi thân, thuần túy, khi chịu tác động từ ngoại trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) hay các định luật của vạn hữu.

  • Nhìn ánh nắng chói chang thấy nhức mắt, nghe âm thanh lớn thấy lùng bùng tai, trời rét thấy da buốt lạnh… Bậc giải thoát không diệt cái khổ thọ bình thường này. Đây là cảm giác thực, chưa qua chế biến của sở thích, thói quen, tình cảm chủ quan (paramattha chưa bị chế biến bởi paññatti) nên chỉ là thọ khổ như thực, chưa biến thành thọ khổ uẩn.
      1. Lạc thọ (sukhavedanā):

Là cảm giác dễ chịu, vừa lòng, thích thú.

  • Ăn món ăn hợp khẩu vị thấy ngon, ngửi mùi trầm thấy dễ chịu… Phàm phu hay thánh nhân đều có chung một lạc thọ như thế. Nhưng phàm phu thường không sống được với cảm thọ như thực ấy mà biến chúng thành một loại đau khổ khác.
      1. Xả thọ (upekkhāvedanā):

Là lúc không có khổ thọ và lạc thọ, cũng là một cảm giác thực, bình thường. Trong đời sống, ai cũng có trạng thái tâm xả thọ này. Đó là lúc thân không đau nhức, khó chịu hoặc thích thú. Nhưng lúc có xả thọ, ta không chịu đựng được lâu, thấy buồn chán, trống không, vô vị, nên tìm cảm giác khác, rồi lại rơi vào tròng khổ, lạc khác.

Cả ba cảm thọ khổ, lạc, xả, nếu chưa bị tình cảm, lý trí chủ quan xen vào thì chưa biến thành uẩn.

2.2. Thọ uẩn (khandhavedanā)

      1. Khổ thọ uẩn hay khổ khổ (dukkhadukkhavedanā):

Từ khổ thọ bình thường, phát sinh tâm lý chủ quan làm gia tăng cảm giác khổ thêm một tầng gọi là khổ khổ. Tâm sân (phi hữu ái – vibhavataṅhā) tác động (do ta bực bội, không chịu đựng nổi nên phát sinh tâm sân) làm khổ thọ thuần túy bị biến đổi, bị tư và hành chi phối, phải nhận chịu cái khổ thâm sâu hơn. Khổ thuần túy chỉ ở nơi thân, khổ do sân chi phối là khổ ở nơi tâm. Khổ ở nơi thân là do sự tác động tự nhiên của căn trần thức. Khổ ở nơi tâm là do hành chi phối. Nó chỉ là ảo giác, không thực, nhưng có khả năng bóp méo toàn bộ tâm sinh lý của con người. Đây chính là khổ khổ, là thọ khổ uẩn.

      1. Lạc thọ uẩn hay lạc hoại khổ (vipariṇāma-dukkha):

Khi lạc thọ thuần túy phát sinh, do tâm tham (hữu ái – bhavataṅhā) xen vào làm cho lạc thọ thuần túy bị biến đổi mà thành uẩn:

  • Khi lạc đang tồn tại thì sợ lạc biến mất.
  • Khi lạc tồn tại quá lâu thì sinh chán nản.
  • Khi lạc biến mất thì sinh ra nuối tiếc, sầu muộn.

Sợ hãi, nuối tiếc, chán chường chính là nỗi khổ mới, tức sự khổ do lạc biến đổi, đổi khác; đây mới chính là hoại khổ hay lạc thọ uẩn.

    1. Xả thọ:

Lúc không có khổ thọ và lạc thọ (xả thọ), chúng ta thường không giữ nó được lâu, chạy đi tìm kiếm những đối tượng ưa thích khác… Chính trạng thái tâm lăng xăng tìm kiếm này tạo nên cái khổ gọi là hành khổ (saṅkhāradukkha). Sự thúc động ấy là do tâm si hay dục ái chi phối, chạy đi tìm kiếm những đối tượng ưa thích, rồi lại rơi vào trường hợp của khổ, lạc ở trên để tạo nên uẩn khác.

2.3. Thọ uẩn có thể đoạn tận

Quan sát tất cả các thọ khổ, lạc, xả, hỷ, ưu, ta thấy chúng đều có những cảm thọ bình thường, thuần túy. Nhưng khi chúng có sự tham dự của bản ngã (ví dụ, tôi đau, tôi nhức, tôi vui, tôi buồn…) thì chúng đều biến thành thọ uẩn. Lấy tuệ minh sát nhìn ngắm thì chúng vốn là không, không thực có, chỉ do ta tự chế biến, đẻ ra mà thôi.

Khi ta thương một người, vẻ mặt, tiếng nói, cười, đi, đứng của người ấy đều dịu dàng, thân thương. Ngược lại, nếu ta ghét người đó, vẻ mặt, tiếng nói, cười, đi, đứng của người ấy đều khiến ta khó chịu, bực bội. Như vậy, chính tình cảm chủ quan của ta đã biến cảm thọ như thực thành dịu dàng, thân thương (lạc) hay khó chịu, bực bội (khổ).