Khám Phá Thế Giới Rồng: Từ Thần Thoại Phương Đông Đến Huyền Bí Phương Tây

Rồng, hay còn gọi là Long (tiếng Trung giản thể: 龙; phồn thể: 龍), là một sinh vật huyền thoại xuất hiện phổ biến trong thần thoại cả phương Đông và phương Tây. Trong Phật giáo, rồng là một trong tám bộ chúng Thiên Long. Dù ở phương Đông hay phương Tây, hình ảnh rồng đều mang ý nghĩa biểu tượng cho sức mạnh phi thường và linh thiêng. Tuy nhiên, ở phương Tây, một số người lại cho rằng rồng chỉ đơn thuần là loài khủng long có thật, chứ không phải là linh vật tưởng tượng. Rồng ở các nước châu Á có nhiều điểm khác biệt so với rồng ở các nước châu Âu và châu Mỹ.

Ở một số nước châu Á, rồng được mô tả với mình rắn, vảy cá, bờm sư tử, sừng hươu, không có cánh nhưng biết bay. Trong khi đó, rồng ở châu Âu thường được hình dung giống như một con thằn lằn khổng lồ, có cánh như dơi và có khả năng phun lửa. Đa số các nước châu Á coi rồng là con vật linh thiêng, trong khi các nước châu Âu lại xem rồng là biểu tượng của cái ác và sự hung dữ. Tại Trung Quốc và các nước lân cận, rồng là một trong bốn linh vật mà Lễ Ký (礼记) chép: “Long, lân, quy, phụng vị chi tứ linh” (Rồng, kỳ lân, rùa, phượng hoàng gọi là tứ linh). Bốn linh vật này, ngoại trừ rùa, đều mang tính chất thần thoại.

Loài rồng châu Phi ít được biết đến so với rồng châu Âu hay rồng phương Đông. Thực tế, nhiều loài rồng ở châu Phi không được công nhận hoặc thậm chí không được coi là rồng. Chúng thường được mô tả giống như những con rắn lớn hoặc rắn khổng lồ, đôi khi chỉ có hai chân, nếu có. Những con rồng giống rắn này xuất hiện nhiều lần trong văn hóa châu Phi, bao gồm văn hóa dân gian, tôn giáo, thần thoại và các câu chuyện bộ lạc. Những câu chuyện về rồng châu Phi được tìm thấy ở các bộ lạc, thành phố và thị trấn trên khắp châu lục, kể cả ở Ai Cập.

Rồng châu Phi thường được mô tả với hình dáng tương tự loài rắn lớn.

Thực tế, một số loài sinh vật có thật cũng được gọi là “rồng”, dù chúng chỉ là loài bò sát, ví dụ như rồng Komodo. Về khía cạnh sinh học, dựa trên hình dáng và cách sinh sống, có thể đây là những con khủng long còn sót lại từ thời tiền sử, là loài thằn lằn khổng lồ sống trong hang động, vùng biển hay các thung lũng, cánh rừng mà con người ít đặt chân đến. Rồng có thể xuất phát từ một loài sinh vật có thật rồi trí tưởng tượng của loài người tô vẽ thêm, hoặc chỉ là sản phẩm thuần túy của trí tưởng tượng khi người ta trực tiếp đối diện với sức mạnh siêu nhiên trong tự nhiên như bão tố, núi lửa phun trào, động đất, lũ lụt và họ đã gán ghép hiện tượng thiên nhiên này với hình ảnh những con rồng nổi giận.

Theo quan niệm của một số nước Á Đông, rồng cơ bản có bốn loại, đại diện cho bốn sức mạnh của thiên nhiên, bốn yếu tố cấu thành vũ trụ: Gió, Lửa, Đất và Nước. Từ bốn loại chính này, người ta tưởng tượng ra nhiều loại rồng khác nhau:

  • Rồng Đất (Địa long) sống trong những hang động sâu thẳm trong núi hoặc thung lũng.

Rồng Đất, loài rồng cư ngụ tại những hang động sâu trong lòng núi.

  • Rồng Nước (Thủy long) sống ở bờ biển, dưới biển, đầm lầy.
  • Rồng Lửa (Hỏa long) sống ở các hang động của núi lửa.
  • Rồng Gió sống ở các vách đá, đỉnh núi cao.

Các Loại Rồng

Rồng Việt

Rồng Việt Nam là vật tổ của người Việt theo truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”. Trong trang trí kiến trúc, điêu khắc và hội họa, hình rồng mang bản sắc riêng, theo trí tưởng tượng của người Việt, khác với rồng trong trang trí kiến trúc và hội họa Trung Hoa và các quốc gia khác. Rồng ở Việt Nam cũng thay đổi tùy theo thời kỳ. Rồng thời Lý thể hiện sự nhẹ nhàng, mềm mại, giống như đang uốn lượn trong mây, thích hợp với các lễ cầu mưa. Rồng thời Trần thì mạnh mẽ hơn, thân hình to và khỏe khoắn.

Rồng thời Lý mang vẻ đẹp mềm mại, uyển chuyển, gắn liền với hình ảnh mây trời.

Rồng Việt Nam thường có một mô-típ rõ ràng đặc trưng:

  • Rồng Việt Nam là con vật có sự kết hợp của 9 loài vật khác: đầu lân, sừng hươu, mắt tôm, tai bò, cổ rắn, bụng ếch, vảy cá chép, móng chim ưng, bàn chân của hổ.
  • Thân rồng uốn hình sin 12 khúc, mềm mại uyển chuyển, thể hiện sự biến hóa. Trên lưng có vây nhỏ liền mạch và đều đặn.
  • Đầu rồng có bờm dài, râu cằm, đầu lớn uy dũng, sừng hươu, mắt to tròn, mũi nở, miệng mở rộng, răng cửa nhọn, thân dài và cơ bắp uyển chuyển uốn lượn với vảy âm dương ngũ sắc. Đuôi rồng lượn sóng hoặc tỏe các tua đuôi. Chân rồng với năm móng sắc lẻm chỉ có ở bậc hoàng đế.
  • Miệng ngậm Long châu (ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, rồng hay cầm ngọc bằng chân trước).
  • Thường được tạc vào đá như biểu tượng linh thiêng canh giữ chùa chiền, lâu đài.

Rồng Trung Hoa

Vì đứng đầu trong tứ linh nên rồng có ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh của người dân Trung Hoa. Cuối năm 1987, tại huyện Bộc Dương (濮阳) tỉnh Hà Nam, người ta khai quật được một con rồng bằng gốm, giám định là có 6 nghìn năm tuổi. Điều này càng chứng minh thêm sự sùng bái rồng trong xã hội nguyên thủy chiếm địa vị trọng yếu trong tín ngưỡng linh vật hay vật tổ (totemism: Đồ đằng sùng bái) và liên quan mật thiết đến chính trị, kinh tế, văn học nghệ thuật, phong tục dân gian từ đời Hạ, đời Thương và ảnh hưởng này kéo dài mấy nghìn năm không suy giảm. Rồng luôn hiện hữu trong các truyện thần thoại Trung Quốc, trong các cổ vật, tranh vẽ, lời bói trên mai rùa xương thú khai quật được, và trong các thư tịch cổ như Chu Dịch, Sơn Hải Kinh, Tả Truyện. Rồng chữ Hán viết là 龙 với các cách phiên thiết như:

  • Khang Hi 력충절: 력충절, như vậy đọc là lung; 로령절 음 로령절, như vậy cũng đọc là lung.
  • Chu Dịch Đại Từ điển 력충절 충 운 력충절 운음, như vậy đọc là lung.
  • Từ Hải 력충절 음 로령절, như vậy đọc là lung.

Theo các cách phiên thiết trên thì chữ 龙 nên đọc là “lung”. Nhưng từ trước đến nay người Việt vẫn đọc là “long”, có lẽ căn cứ vào thanh phù đồng 充 (giản lược thành chữ lập 仑 trên đầu). Thuyết Văn Giải Tự giảng về rồng (long) là: “Lân trùng chi trưởng, năng u năng minh, năng tế năng cự, năng đoản năng trường, xuân phân nhi đăng thiên, thu phân nhi tiềm uyên.” (Rồng đứng đầu các loài có vảy, có thể ẩn hiện, có thể biến hóa nhỏ hoặc lớn, dài hoặc ngắn; tiết xuân phân thì bay lên trời, tiết thu phân thì lặn sâu đáy vực).

Đoàn Ngọc Tài chú: “Mao Thi – Liệu Tiêu truyện viết: Long sủng dã. Vị long tức sủng chi giả tá dã. Chước truyện viết: Long hòa dã. Trường phát đồng. Vị long vi ung hòa chi giả tá tự dã.” (Truyện Liệu Tiêu trong Mao Thi viết: Long tức là sủng (bằng vinh diệu, yêu mến). Nói long tức là nói chữ giả tá của sủng. Chước truyện nói: Long tức là hòa. Đồng nghĩa với trường phát (bằng phát triển lâu dài). Nói long tức là nói chữ giả tá của ung hòa (bằng hòa mục, hòa hiệp). Theo lời chú của Đoàn Ngọc Tài, trong cổ văn, chữ long ngoài ý nghĩa là một linh vật còn được dùng như chữ giả tá của sủng và hòa với các ý nghĩa đã nêu).

Hình tượng rồng Trung Hoa thường xuất hiện trên các tác phẩm nghệ thuật bằng ngọc bích.

Hình tượng của rồng Trung Hoa bao gồm các loài: có mào, cựa gà, thân rắn, đùi thằn lằn, móng vuốt của chim ưng, đuôi rắn, sừng hươu, vảy cá. Có người cho rằng sau khi Hoa Hạ thống nhất các bộ tộc trung nguyên đã kết hợp vật tổ của mình cùng với vật tổ của các bộ tộc đó thành con rồng. Rồng có chín đứa con (Long Sinh Cửu Tử), là chín loài thần thú nhưng không phải rồng. Tùy vào tính cách của mỗi con mà người ta dùng trang trí ở những nơi khác nhau như mái hiên, nóc nhà, lan can, vũ khí, chiến thuyền… Là con thứ 9 của con Rồng theo quan niệm phương Đông. Đây là con vật rất trung thành với chủ, dù chủ nó làm nghề gì nên được rất nhiều người Trung Quốc và cả người Việt Nam rước về (để lấy may mắn).

Rồng Châu Âu

Trong truyện cổ tích Nga hay của một số dân tộc ở châu Âu, rồng thường được miêu tả như một loài bò sát có vảy, cổ và đuôi dài, có 4 chân và có cánh, thường có đầu thổi ra lửa và biết bay. Các đầu này có khả năng tự mọc ra nếu bị chặt mất đầu cũ. Một số rồng chỉ có 1 đầu và có một cái mỏ ngắn, quặp như mỏ đại bàng. Cũng theo những truyện cổ phương Tây, rồng thường được giao nhiệm vụ canh giữ kho báu, lâu đài hay người đẹp, song thường tỏ ra là loài “hữu dũng vô mưu” vì thường chịu thua và thiệt mạng dưới tay một tráng sĩ.

Rồng châu Âu thường được miêu tả với hình dáng của một con thằn lằn khổng lồ có cánh.

Khác với rồng phương Đông được coi là linh vật mang điềm lành, rồng phương Tây bị coi là loài quái vật, tượng trưng cho sức mạnh nhưng nghiêng về ý nghĩa độc ác, hung dữ. Nó có hình dáng của khủng long ăn thịt đi bằng 2 chân; đôi lúc nó cũng có thể bò bằng 4 chân với 2 tay khá lớn có thể cầm nắm, có 2 sừng nhọn, cặp cánh lớn và rộng đủ sức nâng trọng lượng của nó lên không trung, có vảy lưng dài đến tận đuôi và có thể phun ra lửa hoặc nước hoặc các nguyên tố khác… Da của nó rắn chắc và dẻo dai, không loại vũ khí nào có thể sát thương được nhưng lại có điểm yếu nằm ở mắt và lưỡi, thường sống nơi hẻo lánh, con người ít đặt chân đến.

Long Sinh Cửu Tử

Theo “Hoài Lộc Đường Tập” của Lý Đông Dương (李東陽, 1447-1516), tên của “Long Sinh Cửu Tử” lần lượt là:

  • Tù Ngưu
  • Nhai Xãi
  • Trào Phong
  • Bồ Lao
  • Toan Nghê
  • Bí Hí
  • Bệ Ngạn
  • Phụ Hí
  • Li Vẫn/Si Vĩ

Còn theo “Thăng Am Ngoại Tập” của Dương Thận (楊慎, 1488-1559) thì đó là:

  • Bí Hí
  • Li Vẫn/Si Vĩ
  • Bồ Lao
  • Bệ Ngạn
  • Thao Thiết
  • Bá Hạ (霸下, thường bị viết sai thành Công Phúc (蚣蝮))
  • Nhai Xãi
  • Toan Nghê
  • Tiêu Đồ

Hình ảnh Long Sinh Cửu Tử, chín loài thần thú con của rồng với những đặc tính riêng biệt.

Long (Rồng) là một hình tượng Linh Thiêng của Trung Quốc và một số nước Á Đông, đặt nó ở đâu thì nơi đó mang ẩn ý chứa đựng điều cát tường, nó cũng là đứng đầu trong bốn con thú lành của Trung Quốc. Trong truyền thuyết Long Sinh Cửu Phẩm (Rồng Sinh chín con), các phẩm không giống nhau phân biệt như sau:

Bí Hí là con trưởng của Rồng. Còn có tên khác là Quy Phu, Điện Hạ hay Bá Hạ. Linh vật có hình dáng thân rùa, đầu rồng, có sức mạnh vượt bậc, chịu được trọng lượng lớn nên thường được chạm khắc trang trí làm bệ đỡ cho các bệ đá, cột đá, bia đá… Trong chín con của Rồng duy có Bá Hạ thích mang vật nặng, ngoại hình của nó giống con rùa, đầu thì giống rồng, gọi là con thú mang bia (Có một số người, thậm chí cả các nhà Sử Học có sự nhầm lẫn khi cho rằng các con vật đội bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám là loài Rùa, thật ra đó là Bá Hạ vì ngoài đặc tính thích mang vật nặng nó cũng rất thích văn chương nên người xưa dùng nó để đặt bia Tiến sĩ – Điều này mang ý nghĩa sâu sắc hơn là một con rùa bình thường). Có mẹ là Thần Quy Nữ.

Li Vẫn là con thứ hai của Rồng. Còn có tên gọi là Si Vĩ hay Si Vẫn. Linh vật có đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn, thích ngắm cảnh và thường giúp dân diệt hỏa hoạn nên được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện cổ, chùa chiền, đền đài… Có mẹ là Cá Chép Tinh.

Bồ Lao là con thứ ba của Rồng. Linh vật thích âm thanh lớn, thường được đúc trên quai chuông với mong muốn chiếc chuông được đúc có âm thanh như ý muốn. Có mẹ là Hống.

Bệ Ngạn là con thứ tư của Rồng. Còn có tên gọi khác là Hiến Chương. Linh vật có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, có sức thị uy lớn, thích lý lẽ và có tài cãi lý đòi sự công bằng khi có bất công, nhờ vậy bệ ngạn thường được đặt ở cửa nhà ngục hay pháp đường, ngụ ý răn đe người phạm tội và nhắc nhở mọi người nên sống lương thiện. Có mẹ là nữ thần Bạch Hổ.

Thao Thiết là con thứ năm của Rồng. Linh vật có đôi mắt to, miệng rộng, dáng vẻ kỳ lạ, có tính tham ăn vô độ nên được đúc trên các đồ dùng trong ăn uống như ngụ ý nhắc nhở người ăn đừng háo ăn mà trở nên bất lịch sự. Có mẹ là Trư Tinh.

Công Phúc là con thứ sáu của Rồng. Linh vật này thích nước nên được khắc làm vật trang trí ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như: cầu, rãnh dẫn nước, đập nước, bến tàu, thuyền bè… với mong muốn công phúc luôn tiếp xúc, cai quản, trông coi lượng nước phục vụ nhân dân. Có mẹ là Cá Chép Tinh.

Nhai Xãi là con thứ bảy của Rồng. Linh vật có tính khí hung hăng, thường nổi cơn thịnh nộ và ham sát sinh nên thường được chạm khắc trên các vũ khí như đao, búa, kiếm… ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh nơi trận mạc. Có mẹ là Cửu Vĩ Tiên Hồ, nhưng vì hung tính nên được khắc họa có đầu tựa như Sói.

Toan Nghê là con thứ tám của Rồng. Linh vật có mình sư tử, đầu rồng, thích sự tĩnh lặng và thường ngồi yên ngắm cảnh khói hương tỏa lên nghi ngút nên được đúc làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương, ngụ ý mong muốn hương thơm của trầm hương luôn tỏa ngát. Có mẹ là Sư Tinh Sơn Vương.

Tiêu Đồ là con thứ chín của Rồng. Linh vật có tính khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình nên thường được khắc trên cánh cửa ra vào, đúng vào vị trí tay cầm khi mở, ngụ ý răn đe kẻ lạ muốn xâm nhập nhằm bảo vệ sự an toàn cho chủ nhà. Có mẹ là Ngao Khuyển Tinh nên đầu khắc họa tựa như Sư Tử, thật ra Ngao là vua của loài Chó.

Ngoài chín linh vật nói trên, gia đình Rồng còn có một số linh vật khác như:

  • Tù Ngưu: Linh vật giỏi về âm luật nên thường được khắc trên các nhạc cụ, nhạc khí…
  • Trào Phong: Linh vật thường được chạm khắc trên nóc nhà với ngụ ý chống hỏa hoạn và thị uy kẻ xấu (gần giống với li vẫn).
  • Phụ Hí: Linh vật được chạm khắc trên các bia mộ, bài vị với ngụ ý bảo vệ mộ phần người đã khuất.
  • Long Quy: Trong dân gian thì các con rùa lớn linh thiêng cũng được gọi là Long Quy.

Trong truyền thuyết cổ của Trung Quốc cũng có nói đến Nữ Oa Nương Nương dùng bốn chân rùa lớn để chống bốn góc trời bị Cung Công húc nghiêng lệch. Cũng vì Long Quy thích mang vật nặng, ngụ ý giúp con người chống lại Sát khí giảm tai họa, nên Long Quy thường dùng để trấn trạch hưng gia, nó cũng đem lại Phúc Trạch giúp cho cuộc sống tốt hơn. Long Quy đặt tại tài vị thì thúc đẩy tài lộc, đặt tại vị trí Tam Sát hoặc vị trí nhiều thủy khí thì tác dụng hóa giải rất lớn. Phong Thủy Học có nói: “Yếu khoái phát, đầu Tam Sát – Phát tác nhanh chóng nhất là Tam Sát”. Thủy khí lớn chủ thị phi khẩu thiệt, Long Quy đặt ở đó có thể hóa giải tranh cãi, còn đem lại nhân duyên nữa.

Long Quy có thể chiêu tài hóa sát, thêm nữa rùa có hàm nghĩa Nhân Thọ, cho nên Long Quy sử dụng ít khi úy kỵ. Hình dáng nó cũng làm cho nhiều người thích, nhà nhà ai cũng muốn bày nó. Khi bày Long Quy tốt nhất nên lấy Mệnh Vận của chủ nhà mà tính toán, sẽ không bao giờ bất lợi khi quan hệ với người khác. Muốn dùng chiêu tài thì đặt nó hướng ra cửa như dùng Tỳ Hưu. Long Quy bài trí ở phía hậu nhà thì có tác dụng Trấn Trạch. Long Quy có tác dụng tụ sinh khí làm cho vượng nhân đinh. Long Quy trước tiên mang hàm nghĩa Vinh Quý, ngụ rằng Vinh Hoa Phú Quý hay Áo Gấm Về Làng. Cho nên nói đến Long Quy thì đó là một con vật rất Tốt Lành. Đời Tống có quan niệm cho rằng Long Quy tức là Thần Vật của Bắc Đế Chân Võ (Một trong các Hóa Thân của Ngọc Hoàng Thượng Đế).

Long Quy đầu đặt quay về cửa sổ (Bên ngoài cửa sổ có sông, ngòi, biển là tốt nhất), đặt tại phòng khách hoặc phòng đọc sách. Cửa sổ đặt ở vị trí phía đông càng tốt vì có câu “Tử Khí (Khí Lành) đến từ phương Đông”. Tại phòng làm việc nên bày đối diện cửa phòng hoặc cửa sổ (bày ngay trên bàn làm việc của mình). Sau đuôi Long Quy nên bày Tử Tinh Động (Động đá tím) để khí tím đến nhập vào huyệt động. Trước mặt Long Quy nên bày một thủy tinh cầu trong suốt để bổ sung thủy khí cho Long Quy.