Top 8 Bài Phân Tích Nhân Vật Bà Cụ Tứ Sâu Sắc Nhất Trong “Vợ Nhặt”

Tuyển chọn những bài phân tích hay nhất về nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về tâm trạng và vẻ đẹp của người mẹ nghèo khổ, giàu tình thương.

Bài viết này tổng hợp và phát triển từ các bài phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân. Chúng tôi sẽ đi sâu vào diễn biến tâm trạng phức tạp của bà, từ ngạc nhiên, xót xa đến hi vọng, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp nhân hậu và nghị lực sống phi thường của người mẹ nghèo trong bối cảnh nạn đói năm 1945.

1. Dàn ý chi tiết phân tích nhân vật bà cụ Tứ

a) Mở bài

  • Giới thiệu về nhà văn Kim Lân và tác phẩm “Vợ nhặt”.
  • Giới thiệu nhân vật bà cụ Tứ: người mẹ nghèo khổ, góa bụa, đại diện cho vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam.

b) Thân bài

  • Giới thiệu chung về nhân vật bà cụ Tứ:

    • Hoàn cảnh sống: nghèo khổ, góa bụa, già yếu, là dân ngụ cư.
    • Mối quan hệ: sống cùng con trai là Tràng, một anh phụ xe nghèo.
    • Ngoại hình: dáng đi lọng khọng, chậm chạp, run rẩy, vừa đi vừa ho húng hắng, lẩm nhẩm tính toán.
  • Diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ:

    • Trước sự việc Tràng dẫn vợ về:

      • “Phấp phỏng” khi thấy con trai đon đả khác thường: tâm lý bất an, hồi hộp.
      • “Đứng sững lại”: giật mình, ngạc nhiên khi thấy người đàn bà lạ.
      • “Hấp háy cặp mắt”: ngạc nhiên, tò mò muốn nhìn rõ hơn.
      • => Bất ngờ, bị động trước sự việc, không hề hay biết con trai đã “nhặt” vợ.
    • Sau khi hiểu ra sự tình:

      • Thương xót, buồn tủi cho con trai phải lấy vợ nhặt.
      • Hờn tủi cho bản thân vì không thể lo cho con chu đáo.
      • Cảm thương cho người đàn bà khốn khổ cùng đường.
      • Mừng vì con trai đã có người nương tựa, chấp nhận con dâu.
      • Lo lắng cho cuộc sống của các con sau này.
    • Thái độ và hành động đối với nàng dâu mới:

      • Ân cần, quan tâm: “Con ngồi đây… đỡ mỏi chân”.
      • Nói về tương lai với niềm lạc quan: “Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời”.
      • Khuyên bảo các con làm ăn.

      Bà cụ Tứ lo lắng khi thấy Tràng có những biểu hiện khác thường, không biết chuyện gì đang chờ đợi mình.

    • => Bà cụ Tứ là người mẹ nghèo hiền từ, chất phác, vị tha, nhân hậu, âm thầm hi sinh vì hạnh phúc của con. Bà là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ nghèo Việt Nam.

c) Kết bài

  • Cảm nhận riêng về hình tượng bà cụ Tứ.

2. Dàn ý phân tích bà cụ Tứ chi tiết hơn

I. Mở bài

  • Giới thiệu tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân và giá trị nhân đạo sâu sắc.
  • Nhấn mạnh vai trò của nhân vật bà cụ Tứ trong việc thể hiện nội dung nhân đạo đó.

II. Thân bài

  1. Sự ngạc nhiên đến sững sờ:

    • Phân tích tình huống đặc biệt: con trai lấy vợ trong nạn đói.
    • Ngạc nhiên vì con trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư.
    • Miêu tả chi tiết sự ngạc nhiên của bà cụ khi thấy người đàn bà lạ trong nhà.
    • Dẫn chứng: “Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn…”, “Bà lão quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu”.
  2. Vừa mừng vừa tủi:

    • Mừng cho con trai có vợ, yên bề gia thất.
    • Tủi thân vì không lo được cho con.
    • Xót thương cho số phận con dâu.
    • Dẫn chứng: “Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt”, “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá!…”.
  3. Nỗi lo lắng:

    • Lo lắng cho cuộc sống của các con trong cảnh đói kém.
    • Lo lắng về tương lai của gia đình.
    • Chấp nhận “hạnh phúc” éo le của gia đình.
    • Dẫn chứng: “Có gặp bước khó khăn, đói khổ này người ta mới lấy đến con mình…”.
  4. Niềm tin vào tương lai:

    • Cố gắng vui vẻ, tạo không khí ấm cúng trong gia đình.
    • Nói những điều tốt đẹp về tương lai: “Rồi ra may mà ông giời cho khá…”, “ai giàu ba họ ai khó ba đời”.
    • Sửa sang nhà cửa, vườn tược.
    • Dẫn chứng: “Cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”, Bữa cơm sáng với món cháo loãng và “chè khoái”.

    Bà cụ Tứ lo lắng liệu gia đình nhỏ của mình có thể vượt qua được nạn đói khủng khiếp này hay không.

III. Kết bài

  • Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn và giá trị nhân đạo của nhân vật bà cụ Tứ.
  • Nêu cảm nghĩ về nhân vật.

3. Phân tích ngắn gọn nhân vật bà cụ Tứ – Mẫu 1

Bà cụ Tứ là một hình tượng người mẹ Việt Nam điển hình, một nguồn cảm hứng bất tận trong văn học. Bà là một người mẹ nghèo, nhưng giàu lòng nhân hậu, yêu thương con người và luôn hướng về tương lai tươi sáng.

Trong “Vợ nhặt”, bà cụ Tứ xuất hiện trong bối cảnh hoàng hôn ảm đạm, một người mẹ nghèo khổ với tiếng ho “húng hắng”, dáng vẻ tiều tụy. Nhà văn Kim Lân đã đặt nhân vật vào một tình huống bất ngờ: con trai dẫn một người đàn bà về làm vợ giữa nạn đói khủng khiếp. Từ đó, tác giả đi sâu vào khai thác tâm lý và tấm lòng nhân ái của bà cụ Tứ.

Ban đầu, bà cụ Tứ ngạc nhiên và không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Khi Tràng reo lên vui vẻ từ ngoài ngõ, bà cảm thấy phấp phỏng, bất an. Đến giữa sân, bà đứng sững lại, càng ngạc nhiên hơn. Kim Lân đã sử dụng độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng của bà: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?…” Đến khi Tràng giải thích, bà cụ mới hiểu ra. Lòng bà ngổn ngang những lo âu, tủi cực, xót thương lẫn vui mừng. “Bà lão cúi đầu nín lặng”. Trong lòng bà trỗi dậy những ám ảnh về quá khứ đắng cay. Bà nghĩ đến chồng, đến con út, đến cuộc đời cơ cực của mình.

Từ xót xa, mặc cảm, lo lắng, bà nghĩ đến cái may của gia đình. Bà thương người đàn bà lạ, thấu hiểu cảnh ngộ của người con gái xa lạ bỗng trở thành con dâu mình: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình…”. Nghĩ vậy, bà vui trong lòng, cử chỉ dịu dàng, âu yếm. Bà gọi người đàn bà xa lạ là “con”, xưng “u” một cách chân tình. Với bổn phận làm mẹ, bà ao ước có được “dăm ba mâm” cúng tổ tiên, mời làng xóm, nhưng không thể thực hiện vì quá nghèo.

Thương con, bà thương dâu. Bà dặn dò nàng dâu bằng những lời động viên, an ủi: “Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông trời cho khá…”. Sáng hôm sau, gia đình bà dường như thay đổi. Bà cùng con dâu dậy sớm thu dọn, quét tước nhà cửa. “Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”.

Trong bữa cơm thảm hại với rau chuối, muối và cháo, bà vẫn nói chuyện vui, chuyện sung sướng sau này. Bà đem lại cho các con niềm tin vào cuộc sống, mặc dù tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập, tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết.

4. Phân tích ngắn gọn nhân vật bà cụ Tứ – Mẫu 2

Nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng người mẹ giàu đức hi sinh, luôn mang lại tình yêu thương lớn lao cho con cái. Diễn biến tâm lý của bà được nhà văn Kim Lân miêu tả một cách sâu sắc, giúp người đọc cảm nhận được những nỗi niềm thương con vô bờ bến của bà.

Cụ Tứ là một người mẹ đã có tuổi, sống cùng con trai là Tràng trong bối cảnh nạn đói năm 1945. Chính hoàn cảnh khó khăn ấy càng làm nổi bật lên diễn biến tâm lý và phẩm chất của bà. Trong buổi chiều hôm ấy, bà bất ngờ trước hành động của con trai mình, và diễn biến tâm lý của bà cũng bắt đầu từ đó.

Khi cụ Tứ về đến đầu cổng, nghe thấy tiếng ho và thấy Tràng tỏ ra vui mừng, linh cảm của một người mẹ mách bảo bà rằng có điều gì đó bất thường. Từ lo lắng, cụ ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà ngồi đầu giường con trai mình. Những câu hỏi liên tiếp được đặt ra, cho thấy tâm trạng bối rối của người mẹ.

Khi bước chân vào nhà, tâm lý của cụ Tứ đạt tới đỉnh điểm. Từ ngạc nhiên khi người đàn bà ấy gọi bà bằng “u” đến khi Tràng nói “kìa nhà con nó chào u đấy”, bà như không tin vào mắt và tai mình. Thế rồi bà vỡ lẽ ra mọi chuyện khi Tràng nói thêm về tình cảnh này. Bà buồn, giấu những giọt nước mắt của mình mà chấp nhận. Không phải bà không thích có con dâu, nhưng trong hoàn cảnh miếng ăn còn chưa lo được thì lấy nhau về lại chỉ khổ thêm. Vì thế, bà thương con trai mình và người đàn bà vân vê tà áo đã rách bợt. Vậy nên bà nhắm mắt mà chấp nhận: “Thôi các con đã phải duyên phải kiếp với nhau thì u cũng mừng lòng”.

Khi đã vơi đi nỗi lòng ấy, bà lại khơi sáng cho con mình những ý nghĩ tốt đẹp cho tương lai. Bà nói rằng không ai giàu ba họ không ai khó ba đời cả, vì thế chỉ cần qua cái tao đoạn này thì gia đình sẽ yên bề gia thất.

Buổi sáng hôm sau, với bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà dậy sớm cùng con dâu sửa soạn lại căn nhà, quét dọn sạch sẽ, mong chờ những điều tốt đẹp sẽ đến. Và ta cũng cảm thấy được những nét tâm trạng vui vẻ của bà khi thấy con mình hạnh phúc. Bữa cơm ấy bà là người nói nhiều nhất, dường như bà không thể nào giấu đi niềm vui trong lòng mình. Bà nói với Tràng về việc chỗ kia sẽ làm một cái chuồng gà, nuôi hai con gà để mỗi ngày nó đẻ trứng ra ăn.

Bà cụ Tứ đã trải qua những cung bậc cảm xúc từ cao đến thấp, từ buồn đến hạnh phúc, vui tươi. Dù cuộc sống có vất vả, đói nghèo, cái chết cận kề, bà vẫn cưu mang lấy người đàn bà kia, yêu thương con trai và hướng cho họ cái nhìn về một tương lai tốt đẹp hơn.

5. Phân tích chi tiết nhân vật bà cụ Tứ

Nhân vật bà cụ Tứ trong “Vợ nhặt” là một hình ảnh sâu sắc về người mẹ Việt Nam trong bối cảnh xã hội đầy khó khăn. Kim Lân đã miêu tả một cách chân thực và cảm động diễn biến tâm trạng của bà khi đón nhận tin vui bất ngờ của con trai.

Nếu như trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố hay Nam Cao, chúng ta thấy được cuộc sống cơ cực của những người dân lao động, thì trong “Vợ nhặt”, Kim Lân khắc họa một bức tranh về nạn đói năm 1945, nơi cái đói, cái chết xuất hiện như một nhân vật có mặt khắp nơi. Giữa bối cảnh đó, anh cu Tràng lại làm một việc “động trời” là lấy vợ. Bà cụ Tứ, người mẹ nghèo khổ, đã thấu hiểu hết cơ sự.

Sự kiện Tràng lấy vợ được thông báo một cách đột ngột, khiến bà cụ Tứ ngạc nhiên khôn tả. Ban đầu chỉ là sự thắc mắc khi con trai sốt sắng đón mẹ khác mọi ngày. Khi Tràng vẫn thong thả chưa trình bày câu chuyện, bà cụ phấp phỏng bước theo con vào nhà. Hành động đứng sững lại đưa nhân vật tới đỉnh điểm của sự ngạc nhiên. Kim Lân đã thấu suốt nỗi băn khoăn đang nảy theo những câu hỏi trong đầu bà lão: “Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?…”

Khi Tràng dõng dạc vắn tắt trình bày cơ sự, bà lão cúi đầu nín lặng. Bà cụ Tứ đã hiểu hết mọi chuyện, và Kim Lân tiếp tục đồng cảm với những suy tư của bà để thấu hiểu hơn bao giờ hết những tủi hờn, xót xa trong lòng bà cụ. “Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì…”

Thương con đến cháy lòng, khổ đến cùng cực nên bà cụ Tứ hết sức lo lắng cho cuộc sống của các con. “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”. Nỗi lo lắng ấy là nỗi lo của người mẹ có trách nhiệm với con cái.

Trước thái độ của bà cụ Tứ, ngay cả Tràng cũng bất ngờ. Sự nhã nhặn trong cách cư xử, đặc biệt là chuỗi diễn biến tâm trạng nhân vật khẳng định nhân cách cao đẹp của bà. Trước mắt chúng ta là một người mẹ hết lòng thương con, là một bà cụ nghèo khó nhưng phúc hậu rất mực.

Bà cụ Tứ không khỏi ngạc nhiên và băn khoăn khi thấy người đàn bà lạ xuất hiện trong căn nhà vốn chỉ có hai mẹ con.

6. Phân tích nhân vật bà cụ Tứ

Kim Lân đã thành công trong việc khắc họa nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ tảo tần, chịu nhiều vất vả trong tác phẩm “Vợ nhặt”. Tác giả không chú trọng vào hành động mà đi sâu vào khai thác tâm trạng nhân vật, qua đó khẳng định tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của ông.

Diện mạo của bà cụ Tứ chỉ được tác giả phác họa bằng vài chi tiết “dáng đi lọng khọng, đôi mắt nghèn dử, vừa đi vừa húng hắng ho”. Nhưng chừng ấy cũng đã đủ để cho người đọc hình dung về một bà mẹ nhân dân lam lũ, vất vả đã bị cái đói cái nghèo đeo bám suốt cả cuộc đời.

Ngòi bút tập trung đi sâu miêu tả tâm lí bà cụ Tứ, đặc biệt là ở hai thời điểm: trong buổi tối cô vợ nhặt về nhà và buổi sáng hôm sau. Qua hai thời điểm đó đã cho thấy tài năng miêu tả tâm lí bậc thầy của Kim Lân.

Khi bà cụ Tứ nhìn thấy cô con dâu, bà ngạc nhiên đến mức ngỡ ngàng vì chưa bao giờ bà thấy con trai bà mong ngóng bà về đến vậy. Sự ngạc nhiên tạo nên tâm lí phấp phỏng khi bà theo anh cu Tràng vào nhà và thấy một người đàn bà lạ ngồi trong nhà. Đến lúc này sự ngạc nhiên của bà đã lên đến đỉnh điểm, bà tự hỏi: “Quái, sao lại có người đàn bà ngồi trong ý nhỉ?…”

Sau khi được anh con trai giải thích, tâm trạng bà ngổn ngang, rối bời. Bằng trái tim yêu thương của người mẹ, lòng bà dâng lên tình yêu thương con sâu sắc. Bởi bà hiểu người ta chỉ lấy vợ lấy chồng khi cuộc sống yên ổn, nhưng con bà lại lấy vợ vào thời điểm cái đói diễn ra ác liệt nhất. Cùng với đó bà nghĩ tủi cho phận người mẹ nghèo khi không làm tròn trách nhiệm lo lắng cho hạnh phúc của con.

Dù trong lòng ngập tràn nỗi xót xa, nhưng bà vẫn luôn nói những điều vui vẻ, hạnh phúc với người con dâu mới: “ừ, thôi thì các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Câu nói vừa xóa đi cái ngượng ngùng cho người con dâu vừa là sự chào đón đầy ấm áp, nhân từ bà dành cho thành viên mới của gia đình. Dù miệng nói ra những điều phấn khởi, vui vẻ nhưng ám ảnh về cái đói, cái chết vẫn là quá lớn.

Trong buổi sáng hôm sau, Kim Lân tiếp tục đi sâu khai thác tâm lí bà cụ Tứ, đặc biệt nhấn mạnh vào niềm tin, khát vọng tương lai. Cùng với sự thay đổi của Tràng và cô vợ nhặt, bà cụ Tứ cũng có sự thay đổi rõ ràng. Bà dậy sớm cùng con dâu quét dọn nhà cửa. Để tạo niềm tin và hi vọng vào tương lai cho vợ chồng Tràng, trong bữa cơm ngày đói bà lão toàn nói những chuyện sung sướng sau này. Sự tính toán của bà về việc mua lấy đôi gà để ngoảnh đi ngoảnh lại đã có đàn gà, khiến cho đôi vợ chồng có niềm tin vào tương lai.

7. Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt”

Kim Lân đã khắc họa thành công nhân vật bà cụ Tứ, một người mẹ khắc khổ nhưng tràn đầy tình yêu thương trong “Vợ nhặt”.

Bà cụ Tứ hiện lên là người đàn bà khắc khổ, nghèo đói với cái dáng “lòng khòng”, “khập khiễng bước từ ngoài cổng bước vào”. Với một loạt từ dùng để chỉ hình dáng và cử chỉ của bà đã gợi lên trong lòng người đọc hình ảnh người mẹ già không còn khỏe mạnh và tinh anh nữa.

Mặc dù bà chỉ xuất hiện khi Tràng dẫn vợ về nhà nhưng lại ám ảnh đến người đọc khi đã gấp trang sách lại. Vì Kim Lân đã để cho bà xuất hiện với những nét tính cách và tình cảm yêu thương, cảm thông, chịu thương chịu khó hết mực. Bà là một người mẹ vĩ đại và tuyệt vời.

Khi thấy một người đàn bà lạ xuất hiện trong nhà mình, tâm trạng của bà thất thường, không yên và luôn tự hỏi là ai. Khi biết được sự tình, bà cũng không lớn tiếng, cũng không xua đuổi. Bà chỉ lặng lẽ như chính cuộc đời của mình như vậy. Bà thương con mình, thương cho người đàn bà lạ kia. Một tình thương sâu thẳm và bao la. Bà chỉ lo “không biết chúng nó có sống nổi qua ngày không”.

Bà cụ Tứ còn là một người rất hiểu chuyện, không hề than vãn bất cứ điều gì. Bà chỉ nhẹ nhàng bảo “Vợ chồng chúng mày lo mà làm ăn, rồi trời thương. Ai giàu ba họ, ai khó ba đời bao giờ đâu”. Dù hiện thực nghiệt ngã, cái đói cứ đeo bám nhưng bà vẫn động viên, an ủi hai vợ chồng trẻ.

Hình ảnh bà cụ Tứ “xăm xăm trong vườn” vào buổi sáng đầu tiên sau khi anh cu Tràng lấy vợ khiến người đọc vỡ òa. Dù chỉ là một hình ảnh nhỏ, rất bình dị thường ngày nhưng lại khiến cho khung cảnh ảm đạm suốt bao ngày qua trở nên thông thoáng, nhẹ nhõm và trong lành hơn. Đặc biệt hình ảnh “nồi cháo cám” xuất hiện ở bữa cơm đầu tiên Tràng dẫn vợ về không những khiến vợ chồng Tràng nghẹn ứ ở cổ mà còn khiến người đọc không thể cầm nổi nước mắt.

Tâm trạng và nụ cười niềm nở của bà cụ Tứ trong buổi sáng hôm đó thực sự đã tràn niềm vui, sự ấm áp sang đôi vợ chồng trẻ. Bà còn bảo “Cháo cám đấy. Ngon đáo để. Trong xóm mình khối nhà còn không có mà ăn”.

8. Cảm nhận về nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt”

Nhân vật bà cụ Tứ hiện lên như một điển hình về người đàn bà tuy sống trong cảnh nghèo khổ đến cùng cực nhưng có tình yêu thương con vô bờ bến trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.

Ta nhận biết được điều này thông qua một vài chi tiết rất nhỏ: “Từ ngoài rặng tre, bà lọng khọng đi vào. Tính bà vẫn thế, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng…”. Từ “lọng khọng” khiến người đọc có cảm giác như một bà lão dáng dấp nhỏ bé, không còn nhanh nhẹn, bước từng bước chậm chạp, nhọc nhằn đang bước ra từ bóng tối mịt mùng.

Kim Lân còn xây dựng lên nhân vật bà cụ Tứ giàu tình thương, đức hi sinh, luôn mong muốn có một cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn. Điều này thể hiện rõ qua diễn biến tâm lí của bà cụ Tứ trong suốt câu chuyện. Lúc đầu, thấy anh Tràng dắt về một người đàn bà lạ, cụ Tứ “đứng sững lại”, “ngạc nhiên”. Rồi càng ngạc nhiên hơn, khi người đàn bà kia “chào mình bằng u”. Sống quá nửa đời người, chỉ giây lát bà cụ Tứ như dần hiểu ra mọi chuyện, mắt bà nhoèn đi. Bà cụ Tứ không chỉ thương con, mà còn là người giàu lòng nhân ái, thương người cùng cảnh.

Bà cụ Tứ còn là một người luôn sống lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Cảnh buổi sáng hôm sau rực nắng vàng xua tan mọi âm u, chết chóc. Cả gia đình cùng nhau sửa sang ngôi nhà, rọn vườn, quét sân… Trong bữa ăn ngày đói, mâm cháo cám “đắng chát” mừng con dâu mới phơi bày hiện thực “cái đói ngay trước mắt”. Ba con người, ba mảnh đời. Một bà lão “gần đất xa trời” say sưa nói chuyện tương lai. Bà cụ Tứ hào hứng kể những dự tính sắp tới.

Thông qua nhân vật bà cụ Tứ, Kim Lân đã nói lên khát vọng, ước mơ cao đẹp từ đó bày tỏ lòng trân trọng những phẩm chất tốt đẹp ở con người. Đó cũng chính là biểu hiện của tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà văn.