Truyện Kiều của Nguyễn Du, một đỉnh cao của văn học Việt Nam, không chỉ là câu chuyện về số phận người phụ nữ mà còn là bức tranh tuyệt mỹ về vẻ đẹp con người. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” là minh chứng rõ nét nhất cho tài năng miêu tả nhân vật bậc thầy của Nguyễn Du.
Thúy Kiều và Thúy Vân, hai vẻ đẹp làm nên kiệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
Mục Lục
Dàn Ý Phân Tích Đoạn Trích “Chị Em Thúy Kiều”
Dàn Ý Chi Tiết 1
I. Mở Đầu
- Giới thiệu Nguyễn Du: Đại thi hào, danh nhân văn hóa thế giới, tác giả của Truyện Kiều.
- Truyện Kiều: Kiệt tác văn học Việt Nam, giá trị nhân văn sâu sắc.
- Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”: Không chỉ khắc họa vẻ đẹp tuyệt thế giai nhân mà còn thể hiện tài năng miêu tả nhân vật của Nguyễn Du.
II. Thân Bài
1. Khái quát chung
- Tài năng của Nguyễn Du: Miêu tả nhân vật, khắc họa tính cách và số phận con người.
- Bút pháp: Lý tưởng hóa nhân vật chính diện, hiện thực hóa nhân vật phản diện.
- “Chị em Thúy Kiều”: Thể hiện vẻ đẹp toàn bích theo chuẩn mực Á Đông.
2. Phân tích vẻ đẹp Thúy Vân (4 câu)
- Nguyễn Du gợi tả vẻ đẹp từ hình ảnh thiên nhiên: mai, tuyết. Bút pháp ước lệ gợi ấn tượng về vẻ đẹp với cốt cách như mai, thanh tao, và cốt cách trong trắng, tinh khôi như tuyết.
- “Vân xem trang trọng khác vời”: Vẻ đẹp cao sang, quý phái.
- Vẻ đẹp so sánh với tự nhiên: hoa, mây trắng, tuyết, ngọc.
- Chân dung: khuôn mặt, nụ cười, mái tóc, làn da, phong thái điềm đạm.
- Ví dụ: “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” gợi vẻ đẹp phúc hậu, dịu dàng.
- Ví dụ: “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” gợi vẻ đẹp khiến thiên nhiên cũng phải nhường nhịn.
- Ý nghĩa: Cuộc đời an ổn, không sóng gió.
3. Phân tích vẻ đẹp Thúy Kiều (12 câu)
- Tả Thúy Vân trước để làm nổi bật Thúy Kiều.
- “Kiều càng sắc sảo mặn mà”: Vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ.
- Ước lệ tượng trưng: thu thủy, xuân sơn (đôi mắt trong sáng, long lanh).
- Ví dụ: “Làn thu thủy, nét xuân sơn” gợi vẻ đẹp thanh tú, linh hoạt của đôi mắt.
- Vẻ đẹp khiến tự nhiên ganh ghét: hoa ghen, liễu hờn.
- Tài năng: cầm, kì, thi, họa.
- Ví dụ: “Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm” thể hiện sự am hiểu nhiều lĩnh vực nghệ thuật.
- Tài đàn: cung đàn bạc mệnh (tiếng lòng đa sầu, đa cảm).
- Ý nghĩa: Số phận trắc trở, nghiệt ngã, “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
4. Nghệ thuật
- Thủ pháp đòn bẩy (miêu tả Thúy Vân trước).
- Tính từ: mặn mà, trang trọng, sắc sảo…
- Biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, đối xứng, liệt kê, tăng tiến, điển tích điển cố…
- Bút pháp ước lệ tượng trưng.
III. Kết Luận
- Khắc họa chân dung chị em Thúy Kiều bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, thủ pháp đòn bẩy và các biện pháp tu từ.
- Thể hiện cảm hứng nhân văn: Đề cao con người, ca ngợi vẻ đẹp tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh.
Dàn Ý Chi Tiết 2
I. Mở Bài
- Giới thiệu “Chị em Thúy Kiều”: Đoạn trích thể hiện thân phận khổ cực của con người, đặc biệt là người phụ nữ qua tác phẩm Truyện Kiều.
II. Thân Bài
1. Vị trí đoạn trích
- Đoạn mở đầu Truyện Kiều.
- Giới thiệu hoàn cảnh, gia thế và vẻ đẹp hai chị em.
2. Vẻ đẹp chung
- Thanh cao, cốt cách hoàn hảo: “mười phân vẹn mười”.
- Vẻ đẹp riêng: mỗi người một vẻ.
3. Vẻ đẹp riêng
-
Thúy Vân:
- “Vân xem trang trọng khác vời”: Sang trọng, cao quý.
- So sánh:
- “Khuôn trăng đầy đặn”: Khuôn mặt phúc hậu.
- “Nét ngài nở nang”: Lông mày đậm.
- “Hoa cười ngọc thốt đoan trang”: Giọng nói, nụ cười nhẹ nhàng, đoan trang.
- “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”: Thiên nhiên nhường nhịn.
- Kết luận: Vẻ đẹp phúc hậu, dịu dàng.
-
Thúy Kiều:
-
“Kiều càng sắc sảo mặn mà/So bề tài sắc lại là phần hơn”: Nổi bật hơn Thúy Vân.
-
Ngoại hình:
- “Làn thu thủy”: Nước mùa thu (đôi mắt trong sáng).
- “Nét xuân sơn”: Núi mùa xuân (lông mày thanh thoát).
Vẻ đẹp đôi mắt Thúy Kiều được ví như làn thu thủy, một hình ảnh ẩn dụ gợi cảm và đầy chất thơ.
- “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”: Thiên nhiên ghen tị.
- “Nghiêng nước nghiêng thành”: Vẻ đẹp tuyệt sắc.
-
Tài năng:
- “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”: Khó ai sánh nổi.
- “Thông minh vốn sẵn tính trời”: Thông minh, hiểu biết.
- “Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”: Am hiểu âm nhạc, thơ ca.
-
Tiếng đàn: “Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”: Trái tim đa sầu, đa cảm.
-
4. Nghệ thuật
- Miêu tả tượng trưng ước lệ.
- Nghệ thuật đòn bẩy.
III. Kết Bài
- Cảm nghĩ về đoạn trích.
- Nổi bật vẻ đẹp tài sắc vẹn toàn của hai chị em Kiều.
Tuyển Chọn Các Bài Văn Mẫu Phân Tích “Chị Em Thúy Kiều”
Mẫu 1
Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc, đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc với kiệt tác “Truyện Kiều”. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” nổi bật với việc miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều và Thúy Vân.
Ở bốn câu thơ đầu, Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp chung của hai chị em:
“Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.”
Nhà thơ sử dụng nghệ thuật đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ mang ý nghĩa ước lệ tượng trưng, giúp người đọc hình dung vẻ đẹp của hai chị em: “ả tố nga”, “Mai cốt cách tuyết tinh thần”, “mười phân vẹn mười”. Thúy Kiều và Thúy Vân hiện lên với cốt cách ngay thẳng thanh cao và vô cùng dịu dàng.
Bốn câu thơ tiếp theo miêu tả vẻ đẹp Thúy Vân:
“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.”
Thúy Vân duyên dáng với khuôn mặt “đầy đặn” tròn trịa, “nét ngài nở nang”. Nàng cười đoan trang đầy phúc hậu, khiến “mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”. Thiên nhiên ghen tị với làn da, mái tóc của nàng, chịu thua trước vẻ đẹp này. Nguyễn Du gợi ra số phận yên bình của người con gái luôn được vạn vật nhường nhịn.
Nếu miêu tả Thúy Vân chỉ cần bốn câu, Nguyễn Du dùng đến mười sáu câu thơ để nói về vẻ đẹp Thúy Kiều:
“Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn:
Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.”
Vẻ đẹp của Thúy Kiều sắc sảo, mặn mà, khiến cho hoa phải ghen và liễu phải hờn.
Nếu Thúy Vân toát lên vẻ đẹp phúc hậu thì Kiều lại “sắc sảo mặn mà” hơn hẳn. Nàng có đôi mắt tuyệt đẹp, trong như làn nước mùa thu, đôi lông mày đẹp và thanh thoát như dãy núi mùa xuân. Hai vẻ đẹp này tạo nên vẻ đẹp có một không hai, khiến thiên nhiên ghen ghét, đố kị “hoa ghen liễu hờn”. Điều này dự đoán một tương lai đầy sóng gió trắc trở. Kiều không chỉ có nhan sắc mà còn có tài năng, đặc biệt là tài đánh đàn:
“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân.”
Nguyễn Du cho nàng Kiều trở thành người phụ nữ tài sắc vẹn toàn với biết bao tài năng cầm kì thi họa. Tài đánh đàn của nàng là độc nhất đến nỗi “ăn đứt hồ cầm một chương”. Tiếng đàn của nàng tuy hay nhưng lại sầu não đầy bạc mệnh, như chính cuộc đời nàng.
Bằng tài năng nghệ thuật của mình, Nguyễn Du đã giúp hình dung về vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều, mỗi người một vẻ khác nhau. Thúy Vân thì toát lên vẻ đoan trang phúc hậu, trong khi Thúy Kiều lại tài sắc vẹn toàn. Qua việc miêu tả vẻ đẹp của hai chị em, nhà thơ cũng dự báo trước số phận mà hai người sắp phải trải qua, đặc biệt là số phận bấp bênh của Kiều.
Mẫu 2
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, là danh nhân văn hóa thế giới. “Truyện Kiều” là kiệt tác của Nguyễn Du và là quốc hồn quốc túy của Việt Nam. Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” nằm ở phần đầu tác phẩm, giới thiệu và miêu tả vẻ đẹp của hai người con gái.
Bốn câu thơ đầu tiên, tác giả đã khắc họa chung vẻ đẹp của hai nàng:
“Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
Hai chị em được Nguyễn Du ví với “hai ả tố nga”, là những người phụ nữ đẹp thời xưa. Tác giả đã giới thiệu vai vế, vị trí của từng người trong gia đình: Thúy Kiều là chị, Thúy Vân là em. Cả hai người đều có dáng vẻ mềm mại, một phong thái tựa như loài hoa mai cao quý, phẩm chất, đức hạnh sáng trong như tuyết. “Mai” và “tuyết” đều là cái đẹp, Vân Kiều là sự kết tinh của những cái đẹp tinh túy ấy. Vẻ đẹp của họ còn được tuyệt đối hóa, lý tưởng hóa “mười phân vẹn mười”.
Bức chân dung của Thúy Vân hiện ra qua bốn câu thơ tiếp. Vẻ đẹp của Vân là “sang trọng khác vời”, quý phái như những vị tiểu thư đài các nơi lầu son gác tía. “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” là một khuôn mặt phúc hậu, tròn trịa bừng sáng như mặt trăng đêm rằm, đôi lông mày nằm cong còn như con ngài tạo nên nét hài hòa cân xứng.
“Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
Miệng nàng cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong như ngọc. Nguyễn Du sử dụng từ “thốt” cho thấy Vân là người con gái ăn nói biết suy nghĩ. Tóc nàng mượt mà bồng bềnh hơn cả mây. Da của nàng trắng trẻo mịn màng hơn cả tuyết.
Khác với Vân, dung nhan của nàng Kiều không được miêu tả chi tiết tỉ mỉ và được tác giả chấm phá, qua đó bắt được cái thần, cái hồn nhất:
“Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”
Nguyễn Du trước đó cũng khẳng định “So bề tài sắc”, Kiều vẫn hơn em. Vẻ đẹp của Kiều là sắc sảo, đằm thắm với đôi mắt như làn nước mùa thu ẩn dưới đôi lông mày cong cong như dáng núi mùa xuân. Đặc biệt, nếu với Vân, nhà thơ dùng từ “thua”, “nhường” thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên thì giờ đây sắc đẹp của Kiều còn khiến cho thiên nhiên hờn ghen đố kỵ. Quả là một tuyệt sắc giai nhân. Nhưng dường như nó cũng dự báo trước một cuộc đời ấm êm với Thúy Vân và đầy sóng gió, trắc trở với Thúy Kiều.
Không chỉ miêu tả nhan sắc, Nguyễn Du còn dùng nhiều câu để khắc họa tài năng của nàng Kiều, đặc biệt tài đàn: “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”. Cầm kì thi họa, tài nào nàng cũng biết, cũng giỏi. Nhưng giỏi nhất là tài đàn:
“Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”
Nàng còn tự sáng tác cung đàn Bạc mệnh của riêng mình. Bản đàn là sự cất lên của một tâm hồn đa sầu đa cảm. Nhưng chính cung đàn này cũng như ẩn chứa trong nó một điềm báo về chặng đường truân chuyên của nàng Kiều. Kiều là sự kết hợp hoàn hảo giữa sắc – tài – tình.
Dù đều là những giai nhân, những người con gái xinh đẹp nhưng hai chị em vẫn sống rất mực thước như những bông hoa còn đang phong nhụy, mặc kệ mọi bướm lả ong lơi.
Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” đã đưa người được chiêm ngưỡng bức chân dung của hai giai nhân tuyệt sắc trong thơ ca văn học! Đoạn trích cũng thể hiện tài năng và cảm hứng nhân văn của đại thi hào Nguyễn Du.
Mẫu 3
Trong thơ cổ viết về giai nhân thì đoạn thơ “Chị em Thúy Kiều” trích trong “Đoạn trường tân thanh” tức Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là một trong những vần thơ tuyệt bút. Hai mươi tư câu thơ lục bát đã vẽ nên sắc, tài, đức hạnh của hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân.
Với ngòi bút của một kỳ tài diệu bút Nguyễn Du đã vẽ nên bức chân dung hai nàng giai nhân tuyệt thế:
“Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”
Vân là em, Kiều là chị. Hai chị em Vân và Kiều (con đầu lòng của gia đình Vương viên ngoại) đều là những ả tố nga – những người con gái đẹp. Vẻ đẹp của hai nàng là vẻ đẹp thanh tao của mai, là sự trắng trong, tinh sạch của tuyết:
“Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
Bút pháp ước lệ cùng phép ẩn dụ đã gợi lên vẻ đẹp hài hoà, hoàn hảo cả về hình thức lẫn tâm hồn. Vẻ đẹp của hai nàng đều đến mức tuyệt mĩ mười phân vẹn mười nhưng mỗi người lại mang một vẻ riêng. Nguyễn Du đã lấy những gì đẹp đẽ nhất của thiên nhiên để miêu tả hai chị em. Thuý Kiều và Thuý Vân đều mang vẻ đẹp lí tưởng, theo khuôn mẫu và vượt lên trên khuôn mẫu.
Sau những câu thơ giới thiệu về hai chị em, ngòi bút Nguyễn Du lại có chiều hướng cụ thể hơn trong bức chân dung quý phái của Thuý Vân:
“Vân xem trang trọng khác vời,”
Hai chữ trang trọng trong câu thơ đã nói lên vẻ đẹp đài các, cao sang của Vân. Vẻ đẹp ấy của thiếu nữ được so sánh với những thứ cao đẹp trên đời:
“Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
Chân dung của Vân được miêu tả một cách khá toàn vẹn từ khuôn mặt, nét mày, làn da, mái tóc đến nụ cười, tiếng nói. Vân có khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu như vầng trăng, có đôi lông mày sắc nét như con ngài, có miệng cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngà ngọc và mái tóc của nàng bồng bềnh hơn mây, làn da của nàng trắng hơn tuyết, sắc đẹp của Vân sánh với những nét kiều diễm, sáng trong của những báu vật tinh khôi của đất trời. Tất cả toát lên vẻ đẹp trung hậu, êm dịu, đoan trang, quý phái. Vân đẹp hơn những gì mỹ lệ của thiên nhiên nhưng tạo sự hoà hợp, êm dịu: mây thua, tuyết nhường. Với vẻ đẹp như thế, Vân sẽ có một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ và một tính cách điềm đạm. Qua bức chân dung này, Nguyễn Du đã gửi tới những thông điệp về tương lai, cuộc đời chính bởi vậy mà bức chân dung Thúy Vân là chân dung mang tính cách số phận.
Tả Vân thật kỹ, thật cụ thể song Nguyễn Du chỉ vẽ Kiều bằng những nét phác hoạ thông thoáng bởi ông không muốn là người thợ vẽ vụng về:
“Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn”
Sắc đẹp của Kiều được đặt trong sự so sánh với vẻ đẹp đoan trang, quý phái của Vân để thấy được sự hơn hẳn của Kiều về vẻ sắc sảo của tài năng trí tuệ, bởi cái mặn mà của nhan sắc. Không tả khuôn mặt, giọng nói, tiếng cười, làn da, mái tóc như Thuý Vân mà Nguyễn Du đã thật tài tình khi chọn đôi mắt Kiều để đặc tả bởi đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ:
“Làn thu thủy nét xuân sơn,”
Câu thơ tả đôi mắt mà gợi lên bức tranh sơn thuỷ, diễm lệ. Bức tranh ấy có làn thu thủy – làn nước mùa thu, có nét xuân sơn – dáng núi mùa xuân. Cũng như khuôn mặt Kiều có đôi mắt trong sáng, long lanh, có đôi lông mày thanh tú mà khiến:
“Hoa ghen đua thắm liễu hờn kém xanh”
Vẻ đẹp của Kiều không chỉ như thiên nhiên mà còn vượt trội hơn cả thiên nhiên khiến hoa cũng phải ghen, liễu cũng phải hờn. Thiên nhiên không còn thua, nhường mà cau mày, bặm môi tức giận, mà đố kỵ hờn ghen. Nếu vẻ đẹp của Vân là những gì tinh khôi, trong trắng nhất của đất trời thì Kiều lại mang vẻ đẹp của nước non, của không gian mênh mông, của thời gian vô tận. Cái đẹp ấy làm cho nghiêng nước, đổ thành:
“Một hai nghiêng nước nghiêng thành,”
Nguyễn Du đã sử dụng những điển tích để cực tả Kiều với vẻ đẹp của trang giai nhân tuyệt thế. Và cũng chính vẻ đẹp không ai sánh bằng ấy như tiềm ẩn những phẩm chất bên trong cao quý là tài và tình rất đặc biệt:
“Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”
Kiều có cả tài cầm – kì – thi – hoạ của những bậc văn nhân quân tử và tài nào cũng đến mức điêu luyện. Nàng giỏi về âm luật đến mức làu bậc. Cây đàn nàng chơi là cây hồ cẩm, tiếng đàn của nàng ăn đứt bất cứ nghệ sĩ nào và đã trở thành nghề riêng. Để cực tả cái tài của Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng hàng loạt các từ ngữ ở mức độ tuyệt đối: vốn sẵn, pha nghề, làu bậc và đủ mùi. Không những giỏi ca hát, chơi đàn mà Kiều còn sáng tác nhạc nữa. Cung đàn nàng sáng tác là một thiên Bạc mệnh. Bản đàn ấy đã ghi lại tiếng lòng của một tâm hồn đa sầu đa cảm. Nguyễn Du cực tả tài năng của Kiều chính là ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng. Tài năng của Kiều vượt lên trên tất cả và là biểu hiện của những phẩm chất cao đẹp, trái tim trung hậu, nồng nhiệt, nghĩa tình, vị tha. Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của sắc – tài – tình và đạt đến mức siêu phàm, lí tưởng. Nhưng nhan sắc đến mức hoa ghen, liễu hờn để tạo hóa phải hờn ghen đố kị và tài hoa trí tuệ thiên bẩm làu bậc, đủ mùi cái tâm hồn đa sầu, đa cảm như tự dưng mà có của nàng khó tránh khỏi sự nghiệt ngã của định mệnh. Chính bởi Kiều quá toàn mĩ, hoàn thiện nên trong xã hội phong kiến kia khó có một chỗ đứng cho nàng. Và cung đàn Bạc mệnh nàng tự sáng tác như dự báo một cuộc đời hồng nhan bạc mệnh khó tránh khỏi của Kiều. Cuộc đời nàng rồi sẽ sóng gió, nổi chìm, truân chuyên. Cũng giống như bức chân dung Thúy Vân, bức chân dung Kiều là bức chân dung mang tính cách số phận.
Nguyễn Du hết lời ca ngợi Vân và Kiều mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười nhưng ngòi bút tác giả lại đậm nhạt khác nhau ở mỗi người. Vân chủ yếu đẹp ở ngoại hình còn Kiều là cái đẹp cả về tài năng, nhan sắc lẫn tâm hồn. Điều đó tạo nên vẻ đẹp khác nhau của hai người thiếu nữ và hé mở hai tính cách, dự báo hai cuộc đời khác nhau đang đón chờ hai ả tố nga. Hai bức vẽ chân dung của chị em Thuý Vân và Thuý Kiều đã cho thấy sự tài tình trong ngòi bút tinh tế của Nguyễn Du.
Kết thúc đoạn thợ là bốn câu lục bát miêu tả cuộc sống phong lưu khuôn phép, mẫu mực của hai chị em Kiều:
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Hai người con gái họ Vương không chỉ có sắc – tài – tình mà còn có đức hạnh. Sống phong lưu đến mực hồng quần. Cả hai đều đã tới tuần cập kê – tới tuổi búi tóc, cài trâm nhưng vẫn sống trong cảnh:
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Hai câu thơ như che chở, bao bọc cho hai chị em, hai bông hoa vẫn còn phong nhụy trong cảnh êm đềm chưa một lần hương toả vì ai. Nguyễn Du đã buông mành, gạt tất cả mọi vẩn đục cho cuộc đời khỏi cuộc sống phong lưu của hai chị em để đề cao hơn đức hạnh của hai nàng.
Với cảm hứng nhân đạo và tài nghệ thơ, Nguyễn Du đã vẽ nên bức chân dung Thúy Vân, Thuý Kiều bằng những gì đẹp đẽ, mỹ lệ nhất. Hai bức tranh mỹ nhân bằng thơ đã thể hiện bút pháp ước lệ tượng trưng và các biện pháp tu từ trong ngòi bút tinh tế của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.
(Các mẫu 4-17 được lược bỏ để tránh vượt quá độ dài)
Bài viết đã cung cấp dàn ý chi tiết và các bài văn mẫu phân tích đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Hy vọng sẽ giúp ích cho bạn trong việc học tập và nghiên cứu tác phẩm này.
