Nhập Định Là Gì? Thần Thông Có Phải Đẳng Cấp của Đắc Đạo?

Bạn có từng thắc mắc về “nhập định” mà các thiền sư xưa thường thực hành? Liệu nhập định có phải là xuất hồn và thần thông sinh ra như thế nào khi thân vẫn còn đó? Bài viết này sẽ giải đáp những thắc mắc đó, đồng thời phân tích về thần thông và mối liên hệ của nó với sự đắc đạo trong Phật giáo.

I. Nhập Định: Vượt Khỏi Bóng Ma Vọng Tưởng

Nhập định có nghĩa là “vào định,” tức là thiền định. Thiền định là sự chú tâm, chuyên chú vào một điểm nhất định, giúp người tu hành thoát khỏi những bóng ma vọng tưởng điên đảo. Khi không còn vọng tưởng, mê lầm sẽ tan biến, giúp ta không chìm đắm trong sóng ngầm tham, sân, si.

Thiền cũng có nghĩa là yên lặng, và định là an trú trong sự yên lặng đó, một cách tĩnh thức, giác ngộ thuần thục, dẫn đến chứng tam muội. Người an trú trong yên lặng nhiều giờ được gọi là thiền định. Thiền định giúp tâm không còn lưu xuất những khí độc tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố… Những phiền não gốc yên lặng, giúp thiền giả tỉnh thức, những tùy phiền não không sinh khởi, không có chỗ bám víu.

Người thực tập thiền định thì thân ngồi ngay thẳng, miệng không nói lời bất thiện, tâm không ý nghĩ quàng xiên, lục căn thống nhất một lòng với ý niệm, tạo thành một thế ngồi vững vàng như đỉnh ba chân; đôi mắt nhìn ngay chớp mũi, xủ mày một phần ba, không hôn trầm, không tán loạn.

Thiền tông xem mọi vật thể, mọi pháp trên thế gian là giả, là huyễn, là không tự tánh, dễ dàng xả bỏ, để lại một vùng tâm thức trống vắng với thời gian nhất định. Người nhập định như thế có hiệu quả, trí tuệ phát sinh, lần lượt giải thoát khổ đau phiền não, chấm dứt sinh tử luân hồi. Theo Nam tông Phật giáo, tứ thiền là những vị trí mà người tu sĩ phải siêng năng công phu và chuẩn mực duyệt qua. Người tu thiền theo Nam tông phải thực tập nhập từ sơ thiền, đến nhị thiền, đến tam thiền, đến tứ thiền và tịnh phạm địa. Khi ruộng tâm của thiền sư như mảnh đất trống, không còn các loại cỏ mọc hoang phế như xưa, con đường chứng đạo gần nhất với Thiền sư.

Vị thiền sư tâm như chúa tể rừng xanh, không khoan nhượng bất cứ loài mãnh thú nào, không dung chứa các phiền não tham sân si, không cho phép nóng giận dấy sanh, dục ái mọc mầm cắm rễ sâu vào vùng tâm thức. Thiền sư nhập định đến giai đoạn vong bặt các vọng thức, điều phục các chướng duyên, tự tại vô ngại trước các sở hữu pháp đeo bám từ vô thỉ, thuyên chuyển đến giai đoạn đắc đạo, giải thoát luân hồi sinh tử ngay trong hiện thế.

Kết quả của người tu thiền định không có đáp số là thần thông. Tu thiền định là để giúp cho tam nghiệp thanh tịnh, thân tâm giải thoát những uế trược phàm phu, tiến đến thành Phật. Các bậc cao tăng như Lô Sơn Huệ Viễn, Vân Thê Châu Hoằng, Trí Húc Linh Phong, Ấn Quang đại sư, Hoằng Nhất đại sư, Ngọc Lâm Quốc sư… đều dạy chúng niệm Phật, giữ giới, tụng kinh để cứu đời, hóa độ chúng sinh, chứ không ai cầu tu chứng thần thông để “diệu võ dương oai”.

Đức Phật ra đời là để cứu dân độ thế thoát vô minh, giải thoát sinh tử luân hồi, chứ không dạy đệ tử tu chứng thần thông làm gì. Vậy nên, những ai là đệ tử Phật Thích Ca hãy quay đầu trở lại với bản tánh chơn như của mình, tìm về bến giác như trong mơ, không bận rộn những vọng chấp, chấp ngã và chấp pháp.

II. Thần Thông: Diệu Dụng Hay Cạm Bẫy?

Đệ tử Phật tu hành đắc đạo, nhập định đắc tam muội ba la mật thì “có”, nhưng “diệu võ dương oai” biểu diễn thần thông thì “không”. Không “diệu võ dương oai” sử dụng thần thông mới là đệ tử Phật chân chính. Người đệ tử Phật lo tu chơn, không sử dụng thần thông. Lo sử dụng thần thông thì đường luân hồi sẽ khai thông, dẫn chúng sanh vào ngõ tối triền miên.

Theo tự điển Việt Nam của Thanh Nghị, thần thông là phép tắc mầu nhiệm của thần tiên, của những bậc tu hành đắc đạo. Xưa thường hiểu các bậc tu hành ở non núi luôn có phép tắc thần thông siêu đẳng hơn người thế gian.

Thần là tinh thần, nội lực mạnh mẽ, tâm không chút sợ hãi ma quân, tức là không còn ưu ái thế gian. Thông là trí tuệ thông suốt biết quá khứ hiện tại vị lai gần hay xa của mình và chúng sanh. Người tu phép tắc thần thông là bậc có nội lực mạnh, trí tuệ siêu xuất lay chuyển thiên địa, con người, khiến cho con người phải tin. Thần thông thường xuất phát từ trong các tôn giáo, tôn giáo cổ đại hòa nhịp với thiên nhiên, tiếp nhận những ân điển tha lực vô hình rồi đem ban bố lại cho tín đồ, lẽ dĩ nhiên người tín đồ phải tin tưởng thôi.

Câu chuyện một tu sĩ trẻ và vị đạo sĩ sau đây nói lên việc Đức Phật không cho phép đệ tử sử dụng thần thông, mà chỉ dạy đệ tử lo tu hành giải thoát: “Buổi sáng, vị tu sĩ trẻ mới theo Phật, đi du hành khất thực, bách bộ đến bờ sông và muốn qua sông. Vị tu sĩ liền kêu đò, sau khi qua được sông, trả tiền cho bác lái đò một bối xĩ (một tiền bằng trà). Lúc đó có gặp một đạo sĩ dùng nón lá qua sông. Khi qua đến nơi, gặp đạo sĩ, vị tu sĩ hỏi: “Đạo sĩ tu bao nhiêu năm mà qua sông chỉ bằng đi trên nón lá?” – tôi tu 40 năm, còn tu sĩ tu bao nhiêu năm rồi? Tôi mới tu vài tháng đạo sĩ ạ…!” Câu chuyện cho thấy Đức Phật không chủ trương dạy đệ tử tu thần thông phép tắc, mà dạy tu giải thoát, không tranh đua với đời.

Phép tắc thần thông theo Đức Phật là để diệt trừ những ma chướng, giải trừ tam độc do tâm vọng niệm, do lục căn phát sanh, diệt trừ những nghiệp lực do tâm tạo tác, làm cho thân khẩu ý đều thanh tịnh, các chướng ma, nội ma ngoại ma đều tiêu trừ. Thần thông cũng là kết quả quá trình tu hành khổ luyện mới thành tựu. Tuy nhiên, thần thông là một trong những phương tiện giúp cho người tu hàng phục những ma oán, nghiệp lực của thân khẩu ý. Mặc dù vậy, Đức Phật không cho phép đệ tử sử dụng thần thông, vì làm tăng bản ngã người tu, làm cho người tu dễ bị lợi dụng xuôi theo dòng đời, làm cho người tu dễ bị nhiễm ô thế tục, chạy theo tiền tài vật chất. Người sử dụng thần thông hay “diệu võ dương oai” trước bàn dân thiên hạ, hay khoe khoang mình tài giỏi hơn người, nhưng rốt rồi vẫn còn đắm chìm trong dục lạc, nữa Phật nữa ma, dễ làm mất niềm tin tha nhân.

Về việc người tu đắc thiền, có thần thông ban đêm xuất hồn đến nhà trù của chùa ăn cắp cơm cháy đem lên cho đại chúng thiền sinh đang đói bụng cùng ăn, thầy Trụ trì dùng thần thông bắt lấy lại của thường trụ, do đó các Sư bị kiết giới “ăn cắp”. Đây là chuyện “tỷ dụ” của Hòa Thượng Tuyên Hóa nói chuyện “hoằng giới hộ giới” trong “Bộ Luật Trừng Trị Tỳ Ni” vậy thôi. Chứ tu thiền có thần thông thì khí thông thần sáng, uế trược không còn, thân tâm trong sạch làm gì có chuyện “đói meo” giữa đêm và ăn cắp cơm cháy? Hơn nữa cũng không có việc Trụ trì dùng thần thông chận kẻ lấy cắp cơm cháy vào giữa đêm trừ tịch. Trụ trì thì lo gìn giữ Phật pháp, lo việc đại sự quan trọng hơn, làm gì có việc làm Trụ trì đi canh giữ mấy miếng cơm cháy?

Tu pháp tắc thần thông là để sống hòa nhịp với môi trường khắc nghiệt, như những nơi nóng thật nóng, lạnh thật lạnh như môi trường xứ Tibet, Bhutan, Sikkim. Tu pháp tắc thần thông như các Lạt Ma ở vùng cao nguyên, cũng đồng các tu sĩ ở đồng bằng tu học đạo giải thoát. Tuy nhiên tu ở vùng cao nguyên cần có lực dụng nội tại để điều phục muôn thú, điều hòa nóng lạnh, vượt đá băng rừng nên các Lạt Ma tu luyện pháp tắc thần thông và Phật giáo các vùng cao nguyên nầy thuộc Mật giáo.

III. Thần Thông: Lợi Ích và Tác Hại

Như đã phân tích, Phật vẫn có thần thông, nhưng Ngài không truyền dạy thần thông, không cho phép đệ tử sử dụng thần thông. Thần thông của Phật là Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Thần túc thông và Lậu tận thông. Chỉ có Phật mới có Lậu tận thông, hoặc tu chứng tam minh: thiên nhãn minh, túc mạng minh, lậu tận minh. Điều này cho thấy Đức Phật chỉ dùng thần thông để hoằng hóa pháp tu và giúp chư đệ tử tu đắc đạo chấm dứt những phiền não tham sân si, làm cho các lậu hoặc không phát sanh, kiểm soát được vùng ý thức vọng tưởng điên đảo, các lậu bị tận diệt, như cỏ được làm sạch tận gốc rễ, không phát sanh lên được. Cuộc đời hành đạo của Phật một đôi khi có thị hiện dùng thần thông làm phương tiện để cứu vớt chúng sanh.

Đức Phật dùng thần thông thuyết pháp

Trong kinh Địa Tạng, quyển thứ nhất chương I, “Phật hiện thần thông”, có nói việc Đức Phật nhập định lên cung trời Đạo Lợi, thăm mẹ và thuyết pháp độ Thánh Mẫu cùng chư Thiên tu hành. Ý nghĩa này do kinh nói lại có dùng hai chữ thần thông, thích hợp với người ham thích tu có thần thông. Thật ra thì Phật nhập định, nhập từ bi quán tưởng niệm đến Thánh Mẫu Ma Gia, đang an trú ở thế giới chư Thiên, nguyện cho Thánh Mẫu được hướng về đường Phật đạo.

Vì để hàng phục ngoại đạo

Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, khi tranh luận với ngoại đạo Đức Phật không bao giờ khiếp sợ. Ví dụ câu chuyện: “Người phụ nữ đang mang thai, một số ngoại đạo Ni Kiền tử làm phép tắc thần thông biến hóa thai nhi trở thành hoặc là nam hoặc là nữ và hiện tại ngoại đạo biến thai nhi trong lòng bà mẹ kia là nữ, rồi hướng dẫn Bà mẹ đến với Phật để tranh luận. Phật nhờ Thầy Thuốc Kỳ Bà xem thai nhi là nam hay nữ. Kỳ Bà dùng kỹ thuật riêng của Thầy Thuốc xem thai nhi là nam. Đến giờ tranh luận, Phật bảo thai nhi là “nam”, ngoại đạo bảo là “nữ”. Đến kỳ nở nhụy khai hoa, Bà mẹ sanh một cháu trai, ngoại đạo thất bại, vỡ mặt việc sử dụng pháp tắc thần thông. Từ đó ngoại đạo không đụng chạm với Giáo đoàn của Phật nữa”.

Vì để cứu bạn

Trong sách Niệm Phật Thập Yếu của Hòa Thượng Thích Thiền Tâm có biên câu chuyện: “Thời nhà Tống (960-1279) Thiền sư Giới Diễn đang ngồi thiền móng tâm đến dục ái sau đó liền tự diệt. Thiền sư Quang Huệ ngồi kế bên dùng huệ tâm biết như thế, sau khi xả thiền Thiền sư Quang Huệ làm bài kệ cười chê Thiền sư Giới Diễn. Thiền sư tự ái và nhập định viên tịch, tái sanh kiếp sau thành đại thi hào Tô Đông Pha (1037-1101), tín ngưỡng cả Phật Khổng, Lão, cống cao ngã mạn, xem thường Tăng. Thiền sư Quang Huệ biết và liền nhập định viên tịch theo tái sanh làm Thiền sư Phật Ấn để giúp Tô Đông Pha trở lại với Phật pháp, sau cùng cứu được Tô Đông Pha theo Phật tu hành.”

Có thần thông vẫn sa vào hố thẳm

Thời Phật sanh tiền, đạo sĩ Uất Đầu Lam Phất tu tiên đắc Phi Phi Tưởng Xứ định, có ngũ thông. Mỗi ngày ông dùng thần thông bay tới cung vua nhận cúng dường. Hôm đó vua đi vắng, dặn Công chúa khi đạo sĩ tới phải tiếp đãi, cúng dường cho chu đáo. Theo lệ mỗi lần ông Uất Đầu Lam Phất tới, vua thường dìu ông lên đài ngồi và cúng dường. Bấy giờ, Công chúa cũng đỡ ông lên đài ngồi, nhưng do xúc chạm với thân nữ nên tâm dục của đạo sĩ khởi lên, liền bị mất thần thông. Thọ trai xong, đạo sĩ không biết làm thế nào để bay về, đành nói với Công chúa: – Bấy lâu, ta thường dùng thần thông bay đến rồi về, không có dịp cho dân chúng chiêm bái, nay ta sẽ đi bộ về cho họ chiêm bái. Nghe vậy Công chúa cũng đưa đạo sĩ đi bộ về. Ở non núi, ông ngồi thiền bên bờ suối, có tiếng nước suối chảy róc rách, tiếng cá lội chim kêu làm tâm rối loạn, đạo sĩ nổi sân thệ nguyện: “Sau này sẽ làm con chồn bay để ăn hết tụi bay”. Về sau, đạo sĩ cố gắng tu và đắc định sanh lên cõi trời Phi Phi Tưởng Xứ. Đức Phật dùng thiên nhãn thấy đạo sĩ sống đến hàng tỷ năm, nhưng khi hết kiếp sống trên cõi trời sẽ bị đọa làm con chồn bay.

Vô ngã mới đắc đạo

Tứ Tổ Đạo Tín (580-651) hoằng đạo thiền, khi tuổi già tìm người kế thế mà không có. Ngày nọ có vị đạo sĩ cũng tuổi già đến xin Tổ sư truyền đạo thiền. Tổ nói: Ông đã già, tôi vừa truyền cho ông thì ông tịch, làm sau tiếp tục hoằng truyền, nếu ông tái sanh được, ta sẽ truyền cho ông. Đạo sĩ ra về đi ngang dòng suối, gặp cô con gái nhà họ Châu đang giặt lụa, Đạo sĩ nói: “xin cho tôi ở nhờ một đêm”. Nói xong rồi đi. Thời gian sau cô gái không chồng mà mang thai, bị cha me đuổi ra khỏi nhà. Cô gái rày đây mai đó ăn xin, đến ngày nở nhụy khai hoa, sanh cháu trai kháu khỉnh, được mẹ ẵm bồng chăm sóc nuôi dưỡng bằng những bát sữa ăn xin. Năm lên sáu tuổi, đang đi ăn xin cùng với mẹ thì gặp Tứ Tổ. Tứ Tổ biết đây là đạo sĩ tái sanh, liền đón mẹ con về chùa và độ cho mẹ con tu hành. Tổ hỏi: bé không họ? Bé trả lời: có chứ! Tổ hỏi: họ gì?. Bé trả lời: con họ Phật. Tổ biết đạo sĩ tái sanh bèn rước mẹ con về nuôi dưỡng dạy dỗ và đặt tên là Hoằng Nhẫn. Khi lớn lên Tổ Đạo Tín truyền đạo cho Hoằng Nhẫn làm Ngũ Tổ nối thừa đạo thiền của Tứ Tổ.

Kết Luận: Đâu Là Mục Tiêu Cuối Cùng?

Qua các câu chuyện liên quan đến pháp tắc thần thông, chúng ta thấy pháp tắc thần thông là công đức của quá trình tu hành. Xưa nay không ít người tu luyện và thường xuyên sử dụng, nhưng trí tuệ kém, hiệu quả không đi đến đâu, nên không gọi là chứng đắc, bậc đắc đạo. Chỉ có các bậc Phật thánh, hiền triết của Phật giáo khi cần thiết lắm mới sử dụng đạo lực thần thông để làm lợi lạc chúng sanh một cách tích cực.

Người có đạo lực thần thông là phải triệt để chấm dứt lậu tận (lậu tận minh, lậu tận thông), mới cứu rỗi được chúng sanh thoát hóa luân hồi, đó mới là bậc tu hành đắc đạo. Ngược lại, những pháp tắc thần thông dùng để đi du hí, buôn thần bán thánh, giao hoan với nữ giới, phô diễn với người nhẹ dạ dễ tin, tâm vọng tưởng điên đảo thì sa hầm sụp hố. Vì vậy, mục tiêu cuối cùng của tu hành không phải là thần thông, mà là sự giải thoát khỏi luân hồi và đạt đến giác ngộ.