Văn học, thông qua lăng kính của hình tượng nghệ thuật, không chỉ phản ánh đời sống mà còn thể hiện tư tưởng, tình cảm, khát vọng và ước mơ của con người. Hình tượng chính là chìa khóa để khám phá thế giới quan độc đáo của văn học.
Mục Lục
Khái niệm hình tượng
Từ “hình tượng” mang trong mình một lịch sử phong phú. Trong tiếng Latinh, “imago” gợi lên hình ảnh chân dung. Tiếng Nga “obraz” ám chỉ sự tái hiện theo một khuôn mẫu. Còn trong tiếng Hán, “tượng” là hình vẽ biểu đạt ý nghĩa. Kinh Dịch có câu: “Thánh nhân lập tượng để tận ý,” nghĩa là người xưa tạo ra hình tượng để truyền tải trọn vẹn ý niệm.
Theo định nghĩa quen thuộc của L. I. Timôphêép, hình tượng là bức tranh sống động về đời sống con người, vừa cụ thể, vừa khái quát, được tạo nên bằng sự hư cấu và mang đậm giá trị thẩm mỹ. Tuy nhiên, cần tránh hiểu lầm rằng hình tượng chỉ đơn thuần là hình ảnh. Cần phân biệt rõ hai khái niệm “hình ảnh” và “hình tượng”. Hình ảnh là những chi tiết ta bắt gặp trong tác phẩm: cây đa, giếng nước, con đò… Chúng chỉ là hình ảnh đơn thuần khi mang ý nghĩa biểu vật, ví dụ, cây tre chỉ đơn thuần là cây tre. Nhưng khi những hình ảnh này mang một ý nghĩa khác, kết tinh tư tưởng và tình cảm của con người, mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, chúng trở thành hình tượng. Các nhà mỹ học phương Tây nhấn mạnh chức năng biểu ý của hình tượng, còn người Trung Hoa gọi đó là “ý tượng” – hình ảnh chứa đựng ý nghĩa. Cây tre trong bài thơ “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy là một hình tượng, bởi nó tượng trưng cho con người Việt Nam kiên cường, bất khuất, bền bỉ vượt qua khó khăn. Cô Tấm trong truyện cổ tích cũng là một hình tượng, biểu hiện ước mơ về hạnh phúc và công lý của nhân dân.
Văn học không chỉ truyền tải nhận thức bằng ngôn từ mà còn thông qua những đối tượng cảm tính. Lưu Hi Tái từng nói: “Tinh thần của núi không bút nào tả được, phải lấy sương khói mà tả, tinh thần của mùa xuân không tả được, lấy cây cỏ mà tả.” Điều này cho thấy việc sử dụng hình ảnh thiên nhiên, đồ vật, con người… để truyền tải tư tưởng và cảm xúc là vô cùng quan trọng.
Bất kỳ hình thức nào của đời sống, khi chứa đựng ý nghĩa nhân sinh mới mẻ, giàu tính thẩm mỹ và thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người, đều có thể trở thành hình tượng. Vì vậy, hình tượng vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa khách quan, vừa chủ quan, vừa vật chất, vừa tinh thần. Văn học xây dựng hình tượng để khái quát hiện thực, lý giải đời sống, đồng thời thể hiện tư tưởng và tình cảm dưới ánh sáng của một lý tưởng thẩm mỹ.
Tóm lại, hình tượng là phương thức phản ánh thế giới đặc thù của văn học, sử dụng các hình thức đời sống, được sáng tạo bằng hư cấu và tưởng tượng, vừa cụ thể, vừa khái quát, mang tính điển hình, giàu ý nghĩa thẩm mỹ và thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người.
Đặc trưng của hình tượng
Hình tượng là một khách thể mang tính tinh thần
Nghệ sĩ tạo ra hình tượng, những khách thể đời sống tồn tại trong tác phẩm. Hình tượng được gọi là khách thể vì nó là hình thức đời sống được nhà văn sáng tạo để trình bày một hiện thực nhất định. Người đọc có thể nhìn nhận các hình tượng như một thực thể bên ngoài, một khách thể độc lập, không phụ thuộc vào ý muốn của người sáng tạo. Đồng thời, hình tượng là một thế giới tinh thần, tồn tại trong cảm nhận, không phải là một thế giới vật chất hữu hình. Thế giới tinh thần này được lưu giữ và truyền đạt thông qua các phương tiện vật chất như âm thanh, hình khối, màu sắc. Con người sống trong cả thế giới vật chất và thế giới tinh thần, được truyền lại từ các thế hệ trước và không ngừng được tạo ra từ thực tiễn cuộc sống. Lạc Long Quân, Âu Cơ, vua Hùng, Thánh Gióng… là những khách thể tinh thần tồn tại trong tâm hồn người Việt. Những giá trị tinh túy nhất của hiện thực được tinh thần hóa để trở thành những khách thể tinh thần như vậy.
Hình tượng còn được sáng tạo để thỏa mãn những khát vọng tinh thần của con người, những khát vọng mà hiện thực cuộc đời không thể đáp ứng. Đó là ước mơ về công lý, về việc cái ác bị trừng phạt, oan khuất được đền bù, người hiền gặp lành. Đó là ước mơ về sự đủ đầy, về việc những người nghèo khó, xấu xí bỗng trở nên xinh đẹp, khỏe mạnh và giàu có. Hình tượng văn học mang ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống tinh thần con người. Vầng trăng bị xẻ làm đôi trong “Truyện Kiều” làm nổi bật tâm trạng cô đơn và khát khao hạnh phúc của nhân vật. Câu chuyện cổ tích “Trầu Cau” không chỉ nói về phong tục mà còn ca ngợi tình nghĩa anh em, vợ chồng thắm thiết, keo sơn.
Hình tượng mang tính tinh thần vì nó được xây dựng bằng hư cấu và tưởng tượng, chỉ tồn tại trong thế giới tinh thần, trong trí tưởng tượng của con người. Ngay cả khi nhà văn sáng tạo dựa trên một nguyên mẫu có thật, thì nguyên mẫu đó cũng đã được lắp ghép, tái tạo, lựa chọn theo một góc nhìn và ý tưởng riêng. Do mang tính tinh thần, thế giới của hình tượng là một thế giới khác, với không gian, thời gian, nhịp điệu và những quy luật, giá trị riêng. Ngoài đời, có mấy cô Tấm trở thành hoàng hậu, mấy chàng trai nghèo được lên ngôi vua? Nhưng trong văn học, con người có thể thực hiện được ước mơ đổi đời của mình.
Hình tượng mang tính tạo hình và biểu hiện
Tạo hình là biến khách thể tinh thần vô hình thành một tồn tại cụ thể, cảm tính bên ngoài. Nó bao gồm việc tạo cho hình tượng một không gian, thời gian, những sự kiện và quan hệ, xây dựng môi trường và những nhân vật với ngoại hình, nội tâm, hành động, ngôn ngữ riêng biệt.
Hình tượng vốn là một khách thể tinh thần nên cần có hình thức để tồn tại. Lưu Hiệp viết: “Có cái hình xuất hiện thì cái đẹp mới nảy sinh” (Văn tâm điêu long). Hegel cũng khẳng định, hình ảnh là sự khách thể hóa những rung động nội tại để con người nhìn thấy bộ mặt tinh thần của chính mình qua ngoại vật (Mỹ học). Ví dụ, tư tưởng về chủ quyền quốc gia: “Sông núi nước Nam vua Nam ở” (Lý Thường Kiệt), hay cảm xúc về sự mất mát: “Ai đem con sáo sang sông, Để cho con sáo sổ lồng bay đi” (ca dao). Như vậy, tạo hình là để cho sự vật và cả những khái niệm trừu tượng như tư tưởng, cảm xúc cũng hiện lên rõ rệt.
Tạo hình không đòi hỏi trình bày mọi chi tiết của đối tượng. Nó chỉ chọn lọc những chi tiết ít ỏi nhất nhưng giàu màu sắc biểu hiện, tiêu biểu nhất cho một cuộc sống, một tình huống, một tính cách. Giá trị của tạo hình nằm ở khả năng thể hiện chỉnh thể. Sê-khốp từng nói, chỉ một mảnh chai vỡ lấp loáng cũng có thể thể hiện được cảnh sắc một đêm trăng. Nguyễn Tuân thích chi tiết tiếng ếch trên sông, gợi lên niềm hoài cổ của Tú Xương trong bài “Sông Lấp”. Nói cách khác, tạo hình là thể hiện tính toàn vẹn của chỉnh thể, với cái thần, khí của sự vật. Người xưa thường nói về mối quan hệ giữa hình và thần, hình và khí, giữa ngoại hình và khí chất tinh thần của sự vật. Hình vẽ chỉ trở thành hình tượng khi nó truyền tải được cái thần, cái khí của khách thể tinh thần.
Biểu hiện là phẩm chất tất yếu của tạo hình. Biểu hiện là khả năng bộc lộ cái bên trong, cái bản chất của sự vật, hé mở những nỗi niềm sâu kín của tâm hồn. Biểu hiện giúp hình tượng được cảm nhận một cách toàn vẹn, nhất là thể hiện được khuynh hướng, tư tưởng, tình cảm của con người, của tác giả trước các hiện tượng đời sống.
Tạo hình và biểu hiện của hình tượng được bộc lộ qua chi tiết, tình tiết (những thành phần nhỏ nhất của hình tượng), một hình ảnh, một cảm xúc, một âm thanh, một màu sắc, một quan hệ. Chúng liên kết với nhau, tạo thành một hình tượng toàn vẹn, hiện lên rõ nét trong tâm trí người đọc. Ví dụ, cánh buồm lẻ loi, đơn độc tan biến vào bầu không cùng dòng sông cuồn cuộn chảy ngang trời đã diễn tả được nỗi buồn và sự cô đơn trong cảnh biệt ly trong thơ Lý Bạch. Hegel gọi các chi tiết trong tác phẩm là những “con mắt”, qua đó người đọc có thể thấy được thế giới nghệ thuật và “một tâm hồn tự do trong cái vô hạn” của tác giả. Như vậy, tạo hình là để biểu hiện, và muốn biểu hiện phải nhờ tạo hình.
Cơ sở của tạo hình là sự tương đồng của hình tượng so với cái được miêu tả. Cơ sở của biểu hiện là sự khác biệt, là cái không bình thường. Trong câu ca: “Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai,” sự tương đồng ở đây là sự so sánh làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất của cô gái, nhưng cũng nói lên tính không xác định của số phận cô. Một cô gái có những phẩm chất tốt đẹp lẽ ra phải có một số phận tương ứng, nhưng thực tế, số phận cô lại phụ thuộc vào sự ngẫu nhiên. Đó là cái bất thường, tạo nên sự xót xa trong lời than về số phận. Đây chính là nội dung biểu hiện của hình tượng.
Sự kết hợp giữa tạo hình và biểu hiện tạo nên hình thức độc đáo cho hình tượng, một thể thống nhất giữa thực và hư, trực tiếp và gián tiếp, ổn định và biến hóa, chứa đựng đầy nội dung cuộc sống, tư tưởng và cảm xúc.
Tính quy ước và sáng tạo của hình tượng
Hình tượng văn học, về bản chất, là một loại ký hiệu. Ký hiệu là phương tiện gìn giữ và truyền đạt kinh nghiệm, ví dụ như từ ngữ, còi báo động, tín hiệu đèn giao thông. Ký hiệu có thể là một hình vẽ, một màu sắc, một từ ngữ, nhưng nó mang một nội dung có tính quy ước hợp lý để mọi người có thể nhận biết.
Hình tượng, khi được vật chất hóa bằng từ ngữ, bằng các chi tiết tạo hình và biểu hiện, cũng mang tính ký hiệu. Ví dụ, “Sen tàn, cúc lại nở hoa” là hình tượng ký hiệu của mùa thu. “Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông” là ký hiệu của mùa hè. Khi hình tượng được coi là một ký hiệu, nó mang những nội dung hợp logic, mang tính truyền thống, ổn định, mà mọi người có thể hiểu và chia sẻ.
Hình tượng văn học còn là những ký hiệu mang tính thẩm mỹ, không chỉ diễn tả nội dung thực tại ổn định mà còn chỉ ra cái mới, phát hiện cái độc đáo mang cá tính nghệ sĩ. Cũng là những hình tượng mang ký hiệu của mùa thu, nhưng Nguyễn Du viết: “Long lanh đáy nước in trời, Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng,” còn Vương Duy lại viết: “Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu.” Cùng một hiện tượng, mỗi nghệ sĩ lại chọn những ký hiệu khác nhau.
Hình tượng luôn thể hiện, khái quát một tư tưởng, một thái độ, một quan niệm của chủ thể về cuộc đời. Để biểu hiện ý nghĩa khái quát ấy, hình tượng phải có một hình thức chủ quan đặc biệt, ghi dấu cách cảm nhận và thể hiện thế giới độc đáo, riêng biệt, không lặp lại của từng tác giả. Ví dụ, cùng diễn tả cái buồn chán, tội nghiệp của những kiếp sống vô danh, Thạch Lam đã dùng hình ảnh bóng đêm và niềm khao khát ánh sáng trong “Hai đứa trẻ”, còn Xuân Diệu lại miêu tả sự quẩn quanh, xám xịt của cuộc đời hai cô gái trẻ và hình ảnh hai hạt cơm nguội trong “Tỏa nhị kiều”.
Mỗi hình tượng vừa là sự tái hiện một hiện tượng thực tại, vừa mã hóa một nội dung cảm xúc do hiện tượng gợi lên trong những tình huống xã hội nhất định. Bông sen gợi sự trong trắng, thơm đẹp nơi ao bùn, không gian cao xa gợi sự hùng vĩ, ngưỡng mộ. Vì vậy, khi Tố Hữu viết: “Tôi lại về quê Bác, làng Sen, Ơi hoa sen đẹp của bùn đen,” ai cũng hiểu.
Trong các chi tiết tạo hình luôn có sự mã hóa các tư tưởng, cảm xúc xã hội, thẩm mỹ. Mỗi thời kỳ văn học dân tộc có cách mã hóa khác nhau, tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật riêng. Ví dụ, trong văn học dân gian Việt Nam, thuyền tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, trôi dạt, vô định, thì ở phương Tây, thuyền lại tượng trưng cho sự phiêu du của linh hồn sang thế giới bên kia. Muốn hiểu hình tượng nghệ thuật, cần phải giải mã các ký hiệu nghệ thuật, ký hiệu thẩm mỹ.
Tuy nhiên, bản chất của ký hiệu lại có xu hướng cố định hóa, trở thành công thức, dễ rơi vào sáo mòn. Vì vậy, ký hiệu phải luôn được đổi mới, cắt nghĩa mới, sáng tạo ký hiệu mới. Một trong những cách làm cho hình tượng luôn mới là cấu trúc lại các ký hiệu thẩm mỹ quen thuộc, làm cho nó có thêm những ý nghĩa mới. Cũng là hình tượng thuyền và bến như trong ca dao xưa, nhưng trong bài thơ “Lòng anh làm bến thu” của Chế Lan Viên, chúng lại mang những ý nghĩa mới mẻ về vị trí, phẩm chất, biểu tượng.
Hình tượng chứa đựng tình cảm xã hội và lí tưởng thẩm mĩ
Hình tượng không phải là sự sao chép nguyên xi đời sống hiện thực mà còn mang sẵn quan niệm, đánh giá về thế giới, chứa đựng một tư tưởng nhân sinh. Nỗi khát khao bắt Nữ thần Mặt trời về làm vợ (Đăm Săn) chính là nỗi khát khao chinh phục tự nhiên, là sự khẳng định sức mạnh, ý chí của con người thuở xa xưa. Hình ảnh bi đát, thê thảm của đám tang lão Gô-ri-ô (Lão Gô-ri-ô – Ban-dắc) hiện lên như lời tố cáo của tác giả về thực chất các quan hệ người và người trong xã hội tư sản. Hình tượng văn học vừa thể hiện quan niệm, tư tưởng, vừa thể hiện thái độ, tình cảm của nhà văn.
Tình cảm xã hội là tình cảm của một con người riêng biệt, được ý thức trên cấp độ xã hội và được soi sáng bằng một lý tưởng xã hội nhất định. Nó không chỉ là những dấu ấn, những rung động cá nhân riêng lẻ mà còn mang tính phổ quát, bởi mọi vận động của đời sống xã hội đều đi qua số phận của cá nhân. Tình cảm xã hội trong văn học cao hơn tình cảm bình thường, bởi nó hướng tới những tình cảm chung, bởi cội nguồn của nó là nhu cầu tinh thần, là lý tưởng, ước mơ. Cái nuối tiếc trong bài ca “Trèo lên cây bưởi hái hoa” không chỉ là sự nuối tiếc về sự đã trót ràng buộc, mà cao hơn là ý thức cay đắng về số phận, từ đó dấy lên một khát vọng tình yêu, khát khao được chia sẻ. Không chỉ là tình cảm xót thương của một người chú đối với đứa cháu nhỏ (Lượm) đã hy sinh, Tố Hữu còn khẳng định sự bất diệt của một tuổi thơ trong sáng đã hiến dâng đời mình cho tự do của dân tộc. Tư tưởng này mang dấu ấn của tâm thức của mọi người Việt nói chung: những con người đã hy sinh vì Tổ quốc sẽ còn sống mãi với non sông.
Tình cảm xã hội thường đi đôi với lý tưởng thẩm mỹ, tức những khát vọng cao cả nhất, tích cực nhất, nhân tính nhất của con người về cái tốt, cái đẹp, cái hoàn thiện trong các lĩnh vực khác nhau. Do đó, các hình tượng nghệ thuật thường mang những giá trị kết tinh lý tưởng thẩm mỹ không chỉ của tác giả mà còn của một thời đại, một dân tộc. Hình tượng người anh hùng, từ con người mang kích thước phi thường như ông Gióng đến những anh bộ đội bình dị: “Mái chèo một chiếc xuồng con, Mà sông nước dậy sóng cồn đại dương” (Tố Hữu), là kết tinh của quan niệm về người anh hùng, một hình mẫu đẹp trong tâm thức dân tộc Việt Nam, một dân tộc hàng nghìn năm sống trong ngọn lửa chống ngoại xâm.
Tính nghệ thuật của hình tượng
Hình tượng mang tính thẩm mỹ, mang tính nghệ thuật, bởi vì nó được sáng tạo để thưởng thức và thoả mãn về mặt thẩm mỹ. Người đọc một câu thơ, một câu chuyện thường thích thú vì những hình ảnh đẹp, những vần thơ réo rắt, những cốt truyện ly kỳ, hấp dẫn, những nhân vật có hình thức và tính cách quyến rũ. Sức hấp dẫn của hình tượng là một dấu hiệu quan trọng. Diderot nói với nghệ sĩ: “Trước hết, anh phải làm cho tôi cảm động, kinh hoàng, tê mê, anh phải làm cho tôi sợ hãi, run rẩy, rơi lệ hay căm hờn.”
Sức hấp dẫn đầu tiên được tạo thành từ sự sinh động, giống như thật của hình tượng. Gorki đã từng đưa trang sách lên soi qua ánh sáng để xem có đúng là có những con người ở đằng sau trang sách thật không. Nhưng tính sinh động không chỉ đơn giản là giống như thật, mà còn ở sự mới mẻ, lạ kỳ trong cảm nhận về thế giới, chỉ thuộc một hình tượng nào đó. Khi viết về Bác Hồ: “Ta lẫn Bác với bầu trời và giọt lệ, Với hương mộc trong đêm và lộc nõn trên cành,” Chế Lan Viên đã thể hiện một cái nhìn lạ hóa đối tượng. Nhân vật và sự kiện sinh động thường có những biến hóa bất ngờ, không lường trước được. Con chim đến ăn khế tự nhiên lại nói: “Ăn một quả, trả cục vàng.” Miếng trầu têm cánh phượng không ngờ lại là dấu hiệu giúp Vua nhận ra cô Tấm, vợ mình. Anh Tràng chỉ định hát ghẹo mấy cô gái cho vui, không ngờ nhặt được vợ. Chí Phèo định đi giết con khọm già nhà nó, bỗng quay sang nhà Bá Kiến đòi làm người lương thiện! Chính những biến hóa vô cùng ấy đã làm cho hình tượng có sức lôi cuốn đặc biệt.
Hình tượng còn hấp dẫn bởi những chân lý đời sống được phát biểu dưới những hình thức độc đáo: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” (Chế Lan Viên); “Gió đưa cây cải về trời, Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” (ca dao). Nhưng chân lý đời sống trong hình tượng luôn được thể hiện bằng cái nhìn mang tính chủ quan mãnh liệt. Vì vậy, ta hay bắt gặp những lời than, câu hỏi, những trạng thái sững sờ, đột ngột, choáng ngợp của chủ thể trước cuộc đời: “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc, Em có chồng anh tiếc lắm thay!” (ca dao); “Non cao những ngóng cùng trông, Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày” (Tản Đà). Nếu thiếu đi những biểu hiện chủ quan, những hình tượng đó chắc chắn sẽ bớt đi nhiều tính sinh động, biểu hiện của những chủ thể đang cảm xúc trước cuộc đời.
Tóm lại, hình tượng là một phương thức chiếm lĩnh đời sống đặc thù của văn học. Trong hình tượng, có sự thống nhất của cái cá biệt và khái quát, tình cảm và lý trí, tái hiện và biểu hiện, truyền thống và sáng tạo, thể hiện tính muôn màu của thế giới và sức mạnh chủ thể của người sáng tạo.
