Nghề cào nhám, với việc lắp thêm giã cào và thay đổi mắt lưới nhỏ, đang diễn ra trái phép và gây ra hậu quả nghiêm trọng cho môi trường biển. Hoạt động này không chỉ hủy hoại hệ sinh thái mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của ngư dân ven biển Tuy Phong và gây mất trật tự an ninh.
Thực trạng đáng báo động của nghề cào nhám
Nghề cào nhám đã xuất hiện từ 4 năm trước tại các vùng biển La Gi, Phan Thiết. Khi nguồn sò nhám cạn kiệt ở những khu vực này, ngư dân bắt đầu di chuyển đến các ngư trường mới. Từ đầu tháng 10/2019, vùng biển Phan Rí Cửa và Hòa Phú (Tuy Phong) chứng kiến sự xuất hiện của nhiều tàu giã cào nhám đến từ La Gi, Phan Thiết, Hàm Tân, hoạt động gần bờ. Ước tính mỗi ngày có khoảng 20 tàu hoạt động liên tục 24/24 giờ.
So với nghề giã cào bay, cào nhám có tính chất “tận diệt” cao hơn. Tàu được trang bị khung sắt dài khoảng 2m để cào sâu xuống đáy biển, kết hợp với lưới mắt nhỏ, quét sạch mọi thứ trên đường đi.
Lưới mắt nhỏ tận thu cả sò nhám nhỏ, làm cạn kiệt nguồn lợi.
Hậu quả nghiêm trọng và lợi nhuận “khủng”
Đối tượng khai thác chủ yếu là các loại hải sản non, đặc biệt là sò nhám (hay còn gọi là con chằng chằng, chem chép). Mỗi tàu có thể cào được 300-500 bao sò nhám mỗi ngày, thu về lợi nhuận từ 40-50 triệu đồng. Sò nhám sau đó được bán cho các cơ sở nuôi tôm ở Ninh Thuận, Khánh Hòa. Lợi nhuận cao đã khiến nhiều tàu giã cào đơn tại Hòa Phú và Phan Rí Cửa chuyển sang nghề cào nhám.
Trước đây, ngư dân Tuy Phong khai thác sò nhám bằng phương pháp thủ công, sử dụng cây và lưới nhỏ kéo ven bờ, thu nhập chỉ từ 300.000 – 500.000 đồng/ngày. Tuy nhiên, khi sò nhám xuất hiện dày đặc, các tàu giã cào đã cải hoán ngư lưới cụ để tối đa hóa lợi nhuận.
Vi phạm pháp luật và hệ lụy xã hội
Các tàu cào nhám thường là tàu giã cào ven bờ có công suất trên dưới 90CV. Theo quy định, tàu cá từ 90CV trở lên chỉ được phép hoạt động ở tuyến khơi, cách bờ biển hơn 24 hải lý. Tuy nhiên, vì lợi nhuận, các tàu này ngang nhiên hoạt động trái phép cách bờ chỉ khoảng 500m, cả ngày lẫn đêm.
Hoạt động cào nhám không chỉ tận diệt thủy sản mà còn gây mất mát, hư hỏng ngư lưới cụ của ngư dân ven bờ. Thậm chí, còn hình thành các băng nhóm xã hội đen bảo kê việc bốc dỡ sò nhám, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Lời kêu cứu từ ngư dân
Ngư dân Đỗ Ngọc Tuấn (Phan Rí Cửa) than thở: “Có lần đi ra biển thả lưới đã bị tàu giã cào nhám cào hết lưới”. Ngư dân Huỳnh Văn Hương bức xúc: “Tàu giã cào này hoạt động theo kiểu ‘tận diệt’ khiến cho việc mưu sinh của những ngư dân làm nghề ven bờ ngày càng khó khăn. Đề nghị lãnh đạo Nhà nước cần nghiên cứu, phân vùng đánh bắt cho mọi ngành nghề”.
Những khó khăn trong xử lý vi phạm
Khi bị bắt, các chủ tàu giã cào nhám thường biện minh rằng: “Nếu không chuyển qua nghề cào nhám này thì bạn ghe nghỉ hết, ghe phải đậu bờ, đâu có nghề gì nữa mà làm”. Các tàu này cũng sử dụng nhiều thủ đoạn né tránh, gây khó khăn cho cơ quan chức năng. Ông Trần Anh Tuấn cho biết: “Khi phát hiện lực lượng chức năng từ xa, các tàu cào nhám thường cắt lưới thả chìm xuống biển rồi bỏ chạy nên rất khó khăn cho việc xử lý”.
Giải pháp nào cho vấn nạn cào nhám?
UBND huyện Tuy Phong đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với các xã, thị trấn ven biển tuyên truyền, vận động ngư dân chấm dứt hoạt động cào nhám và chuyển đổi sang các ngành nghề phù hợp. Đồng thời, tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, ngăn chặn tàu cá hành nghề cào nhám xuất bến và bốc dỡ sản phẩm cào nhám.
Ông Lê Văn Boanh cho biết: “Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện đã xây dựng kế hoạch phối hợp với Trạm Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tuy Phong, Đồn Biên phòng Hòa Minh và bà con ngư dân tăng cường công tác phối hợp tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm nghề cào nhám; không để phát sinh thêm tàu giã cào nhám trên vùng biển Tuy Phong”.
Tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm là giải pháp cấp bách.
Kiên quyết xử lý tận gốc
Để ngăn chặn triệt để nghề cào nhám, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng trong việc tuần tra, xử lý trên biển và kiên quyết xử lý các chủ nậu, vựa thu mua sò nhám trên bờ. Có như vậy, mới có thể bảo vệ môi trường biển và sinh kế của ngư dân ven bờ một cách bền vững.
