O. Hen-ri, một bậc thầy truyện ngắn người Mỹ, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả với tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng”. Câu chuyện cảm động này, thường được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn lớp 6 và lớp 8, không chỉ là một bài học về tình người mà còn là nguồn cảm hứng về nghị lực sống. Sen Tây Hồ xin mời bạn đọc cùng khám phá những giá trị nhân văn sâu sắc ẩn chứa trong tác phẩm này.
Mục Lục
I. O. Hen-ri: Người Thầy Của Những Câu Chuyện Ngắn
O. Hen-ri (1862 – 1910), tên thật là William Sydney Porter, là một nhà văn tài hoa người Mỹ, nổi tiếng với những truyện ngắn đầy bất ngờ và giàu cảm xúc. Ông được biết đến qua nhiều tác phẩm ấn tượng như “Căn gác xép”, “Tên cảnh sát và gã lang thang”, “Quà tặng của các đạo sĩ”… Những câu chuyện của O. Hen-ri thường mang giọng văn nhẹ nhàng, dí dỏm nhưng lại chứa đựng những thông điệp sâu sắc về tình yêu thương, sự hy sinh và lòng trắc ẩn đối với những người nghèo khổ trong xã hội.
II. Khám Phá “Chiếc Lá Cuối Cùng”: Một Kiệt Tác Vượt Thời Gian
1. Bối Cảnh Ra Đời Của “Chiếc Lá Cuối Cùng”
Truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” được xuất bản lần đầu vào năm 1907, trong tập truyện “The Trimmed Lamp and Other Stories”. Tác phẩm ra đời trong bối cảnh xã hội Mỹ đầu thế kỷ 20, khi cuộc sống của những người nghèo còn gặp nhiều khó khăn và thử thách.
2. Bố Cục Rõ Ràng, Mạch Lạc
Câu chuyện được chia thành 3 phần chính, dẫn dắt người đọc đi từ tuyệt vọng đến hy vọng và cuối cùng là sự cảm phục:
- Phần 1: (Từ đầu đến “Và rồi khi bóng đêm tràn đến…kiểu Hà Lan”): Giôn-xi chìm trong bệnh tật và tuyệt vọng, chờ đợi cái chết khi chiếc lá cuối cùng lìa cành.
- Phần 2: (Tiếp theo đến “Bây giờ chỉ cần bồi dưỡng…thế thôi”): Giôn-xi dần hồi phục nhờ sự xuất hiện kỳ diệu của chiếc lá cuối cùng.
- Phần 3: (Phần còn lại): Sự thật cảm động về chiếc lá cuối cùng và sự hy sinh cao cả của cụ Bơ-men.
3. Tóm Tắt Câu Chuyện
Xiu và Giôn-xi là hai nữ họa sĩ trẻ sống trong khu nhà trọ tồi tàn. Giữa mùa đông khắc nghiệt, Giôn-xi mắc bệnh sưng phổi nặng và mất dần hy vọng sống. Cô tin rằng, khi chiếc lá cuối cùng trên cây thường xuân trước cửa sổ rụng xuống, cũng là lúc cô lìa đời. Cụ Bơ-men, một họa sĩ già sống cùng khu trọ, biết được ý nghĩ tiêu cực của Giôn-xi. Trong một đêm mưa bão, cụ đã bí mật vẽ một chiếc lá thường xuân lên bức tường, thay thế cho chiếc lá thật đã rụng. Chiếc lá “giả” đã mang lại niềm tin và nghị lực sống cho Giôn-xi. Nhưng sau đêm đó, cụ Bơ-men qua đời vì bệnh phổi. Xiu đã kể cho Giôn-xi nghe về sự hy sinh cao cả của cụ Bơ-men và bí mật của chiếc lá cuối cùng.
4. Nội Dung Sâu Sắc
“Chiếc lá cuối cùng” là một câu chuyện cảm động về tình yêu thương, sự hy sinh và sức mạnh của niềm tin. Tác phẩm ca ngợi tình người cao đẹp giữa những con người nghèo khổ, sẵn sàng hy sinh bản thân để mang lại hy vọng và sự sống cho người khác. Câu chuyện cũng khẳng định rằng, nghệ thuật chân chính có thể cứu rỗi tâm hồn và mang lại những điều kỳ diệu trong cuộc sống.
5. Nghệ Thuật Đặc Sắc
O. Hen-ri đã sử dụng một loạt các thủ pháp nghệ thuật đặc sắc để tạo nên sức hấp dẫn cho “Chiếc lá cuối cùng”, bao gồm:
- Tình tiết hấp dẫn: Câu chuyện được xây dựng với những tình tiết bất ngờ, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối.
- Kết cấu đảo ngược tình huống: Cái chết của cụ Bơ-men và sự thật về chiếc lá cuối cùng đã tạo nên một cái kết đầy bất ngờ và cảm động.
- Ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc: O. Hen-ri sử dụng ngôn ngữ gần gũi, đời thường nhưng vẫn thể hiện được những cảm xúc sâu sắc của nhân vật.
Diễn Biến Chi Tiết Câu Chuyện “Chiếc Lá Cuối Cùng”
(Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ nghèo, còn trẻ, sống trong một căn hộ thuê ở gần công viên Oa-sinh-tơn. Cụ Bơ-men cũng là một hoạ sĩ nghèo thuê phòng ở tầng dưới. Bốn chục năm nay cụ mơ ước vẽ một kiệt tác nhưng chưa thực hiện được; cụ thường ngồi làm mẫu vẽ cho các hoạ sĩ để kiếm tiền. Lúc ấy là vào mùa đông. Giôn-xi bị bệnh sưng phổi. Bệnh tật và nghèo túng khiến cô tuyệt vọng không muốn sống nữa. Cô đếm từng chiếc lá còn lại trên cây thường xuân bám vào bức tường gạch đối diện với cửa sổ, chờ khi nào chiếc lá cuối cùng rụng nốt thì cô cũng buông xuôi, lìa đời…)
Khi hai người lên trên gác thì Giôn-xi đang ngủ. Xiu kéo tấm mành mành xuống che kín cửa sổ và ra hiệu cho cụ Bơ-men sang buồng bên cạnh. Sang đến nơi, họ sẹo sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì. Một cơn mưa lạnh lẽo, dai dẳng vẫn đang rơi, lẫn cùng với tuyết. Cụ Bơ-men mặc chiếc sơ mi cũ màu xanh, ngồi đóng vai một tay thợ mỏ già trên cái ấm đun nước lật úp giả làm tảng đá.
Sáng hôm sau, Xiu tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ thì thấy Giôn-xi đang mở to cặp mắt thẫn thờ nhìn tấm mành màu xanh đã kéo xuống.
“Kéo nó lên, em muốn nhìn”, cô thều thào ra lệnh.
Xiu làm theo một cách chán nản.
Nhưng, ô kìa! Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng kéo dài suốt cả một đêm, tưởng chừng như không bao giờ dứt, vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Đó là chiếc lá cuối cùng trên cây. Ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành cách mặt đất chừng hai mươi bộ.
“Đó là chiếc lá cuối cùng”, Giôn-xi nói, “Em cứ tưởng là nhất định trong đêm vừa qua nó đã rụng. Em nghe thấy gió thổi. Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”.
“Em thân yêu, thân yêu!”, Xiu nói, cúi khuôn mặt hốc hác xuống gần gối, “Em hãy nghĩ đến chị, nếu em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?”.
Nhưng Giôn-xi không trả lời. Cái cô đơn nhất trong khắp thế gian là một tâm hồn đang chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình. Khi những dây ràng buộc cô với tình bạn và với thế gian cứ lơi lỏng dần từng sợi một, ý nghĩ kì quặc ấy hình như càng choán lấy tâm trí cô mạnh mẽ hơn.
Ngày hôm đó trôi qua và ngay cả trong ánh hoàng hôn, họ vẫn có thể trông thấy chiếc lá thường xuân đơn độc níu vào cái cuống của nó trên tường. Thế rồi, cùng với màn đêm buông xuống, gió bấc lại ào ào, trong khi mưa vẫn đập mạnh vào cửa sổ và rơi lộp độp xuống đất từ mái hiên thấp kiểu Hà Lan.
Khi trời vừa hửng sáng thì Giôn-xi, con người tàn nhẫn, lại ra lệnh kéo mành lên.
Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó.
Giôn-xi nằm nhìn chiếc lá hồi lâu. Rồi cô gọi Xiu đang quấy món cháo gà trên lò hơi đốt.
“Em thật là một con bé hư, chị Xiu thân yêu ơi”, Giôn-xi nói, “Có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội. Giờ thì chị có thể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và – khoan – đưa cho em chiếc gương tay trước đã, rồi xếp mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng”.
Một tiếng đồng hồ sau, cô nói: “Chị Xiu thân yêu ơi, một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ”.
Buổi chiều, bác sĩ tới và khi ông ra về, Xiu kiếm cớ ra ngoài hành lang.
“Được năm phần mười rồi”, bác sĩ nói và cầm lấy bàn tay mảnh dẻ run rẩy của Xiu, “Chăm sóc chu đáo thì chị sẽ thắng. Và bây giờ tôi phải xuống dưới nhà thăm một bệnh nhân khác, tên là Bơ-men, hình như là một nghệ sĩ thì phải. Cũng lại chứng sưng phổi. Ông cụ là một người già yếu, bệnh tình nguy kịch. Chẳng còn hy vọng gì, nhưng hôm nay ông cụ sẽ vào nằm bệnh viện để được chăm sóc chu đáo hơn”.
Hôm sau, bác sĩ bảo Xiu: “Cô ấy khỏi nguy hiểm rồi, chị đã thắng. Giờ chỉ còn việc bồi dưỡng và chăm nom – thế thôi”.
Và buổi chiều hôm đó, Xiu tới bên giường Giôn-xi nằm, thấy Giôn-xi đang vui vẻ đan một chiếc khăn choàng len màu xanh thẫm rất vô dụng, chị ôm lấy người Giôn-xi lẫn những chiếc gối.
“Chị có chuyện này muốn nói với em, con chuột bạch của chị”, cô nói, “Cụ Bơ-men đã chết vì sưng phổi hôm nay ở bệnh viện rồi. Cụ ốm chỉ có hai ngày. Buổi sáng ngày thứ nhất, bác gác cổng thấy cụ ốm nặng trong căn phòng của cụ ở tầng dưới. Giày và áo quần của cụ ướt sũng và lạnh buốt. Chẳng ai hình dung nổi cụ đã ở đâu trong một đêm khủng khiếp như thế. Nhưng rồi người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó, và vài chiếc bút lông rơi vung vãi, và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn với nhau, và – em thân yêu ơi, em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường. Em có lấy làm lạ tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là kiệt tác của cụ Bơ-men, – cụ vẽ nó ở đấy vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng”.
Lời Kết
“Chiếc lá cuối cùng” của O. Hen-ri là một minh chứng cho sức mạnh của tình yêu thương và hy vọng. Câu chuyện nhắc nhở chúng ta rằng, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, chúng ta vẫn có thể tìm thấy ánh sáng và niềm tin vào cuộc sống. Sự hy sinh cao cả của cụ Bơ-men đã mang đến một bài học sâu sắc về giá trị của sự đồng cảm và lòng trắc ẩn. Hãy để “Chiếc lá cuối cùng” tiếp thêm sức mạnh cho bạn trên hành trình vượt qua những thử thách và khó khăn trong cuộc sống.
