Tuyển Chọn Các Trò Chơi Học Tập Thú Vị Cho Học Sinh Tiểu Học Theo Môn Học

Chơi là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của học sinh tiểu học. Nó quan trọng như ăn, ngủ và học tập. Trẻ em luôn tìm cách tận dụng mọi cơ hội để vui chơi. Vì vậy, bài viết này, Sen Tây Hồ xin giới thiệu đến bạn đọc những trò chơi học tập thú vị, được phân loại theo từng môn học, giúp các em vừa học vừa chơi một cách hiệu quả.

Toán Học

1. Trò chơi: Sắp xếp thứ tự

  • Mục đích: Giúp học sinh nhận biết thứ tự của các số, rèn luyện tính nhanh nhẹn và chính xác.
  • Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị các tấm bìa, mỗi tấm bìa ghi một số đã học (1-10).
  • Luật chơi: Xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại.
  • Cách tiến hành: Giáo viên phát cho mỗi em một tấm bìa. Khi giáo viên hô “1, 2, 3”, học sinh lập tức cầm tấm bìa có số lên và đứng vào vị trí. Khi nghe hô “dừng”, các em không được thay đổi vị trí. Giáo viên và cả lớp cùng nhận xét, tuyên dương những em xếp đúng.

2. Trò chơi: Tô hình đúng, màu đẹp

  • Mục đích: Củng cố khả năng nhận dạng hình tam giác, hình vuông, hình tròn, rèn luyện sự khéo léo và óc thẩm mỹ.
  • Chuẩn bị: Giấy khổ lớn in các nhóm hình.
  • Cách chơi: Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội cử 3 bạn. Giáo viên phát cho mỗi đội 3 bút màu (xanh, đỏ, vàng). Yêu cầu quan sát kỹ các hình vẽ. Khi giáo viên hô: “Tô màu đỏ vào hình tam giác, tô màu xanh vào hình vuông, tô màu vàng vào hình tròn”, trong 3 phút đội nào tô đúng, đẹp (không bị nhòe màu) sẽ thắng.

3. Trò chơi: Xếp hình theo mẫu

  • Mục đích: Củng cố nhận dạng hình tam giác, hình tròn, rèn khả năng quan sát và nhận xét quy luật của dãy hình.
  • Chuẩn bị: Mỗi học sinh chuẩn bị các hình tròn, hình tam giác (trong bộ đồ dùng học toán lớp 1). Giáo viên chuẩn bị dãy hình mẫu (vẽ hoặc đính trên bảng phụ).
  • Cách chơi: Giáo viên đưa dãy hình mẫu ra cho cả lớp quan sát trong thời gian ngắn, sau đó cất đi. Khi giáo viên ra hiệu lệnh, học sinh dùng các hình đã chuẩn bị để xếp lại dãy hình theo đúng mẫu. Trong khoảng thời gian định trước, những học sinh xếp đúng, đẹp sẽ được thưởng.

4. Trò chơi: Truyền điện

  • Mục đích: Luyện tập và củng cố kỹ năng làm các phép tính cộng trừ trong phạm vi 10, luyện phản xạ nhanh.
  • Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị.
  • Cách chơi: Giáo viên hỏi, ví dụ “4 + 5 = ?”, rồi chỉ một bạn bất kỳ trả lời. Bạn này trả lời xong, lại hỏi (tương tự) rồi chỉ một bạn khác trả lời. Cứ tiếp tục như vậy đến khi giáo viên ra hiệu lệnh dừng. Bạn nào được chỉ định phải trả lời thật nhanh. Bạn nào trả lời sai thì chịu phạt.

5. Trò chơi: 2 + 4

  • Mục đích: Luyện tập kỹ năng cộng hai số có nhớ trong phạm vi 100, tập cho học sinh cách đánh giá và cho điểm.
  • Chuẩn bị: Một chữ A và một chữ B, hình ảnh các loài hoa cắt bằng giấy màu cứng (mặt trước màu trắng ghi các phép tính trong phạm vi 100), phấn màu, đồng hồ. Chọn 3 học sinh khá nhất lớp làm giám khảo và thư ký.
  • Cách chơi: Chia lớp làm 2 đội. Khi nghe hiệu lệnh “bắt đầu”, lần lượt từng đội cử người lên bốc hoa trên bàn giáo viên. Người chơi có nhiệm vụ làm nhanh phép tính ghi trên bông hoa, sau đó cài bông hoa lên cây của đội mình. Người này làm xong thì đến lượt người khác, cho đến hết 2 phút. Sau khi giáo viên hô hết giờ, 2 đội cử đại diện lên đọc từng phép tính trên cây của mình, đồng thời giơ cho cả lớp xem bông hoa đó. Giám khảo đánh giá và thư ký ghi lại kết quả.

6. Trò chơi: Xếp hàng thứ tự

  • Mục đích: Giúp học sinh củng cố so sánh và sắp xếp thứ tự các số.
  • Chuẩn bị: Giáo viên: 2 lá cờ hiệu (màu khác nhau). Học sinh: mỗi đội 5 mảnh bìa ép để ghi các số. Chọn đội chơi: Mỗi đội 4-5 em, tự đặt tên cho đội (Ví dụ: đội Xanh, đội Đỏ).
  • Cách chơi: Hai đội trưởng lên nhận bìa và phát cho mỗi bạn. Giáo viên yêu cầu hai đội quan sát, tự so sánh các số vừa nhận trong nhóm (trong 1 phút). Khi cô giáo hô hiệu lệnh và giơ 2 lá cờ trên 2 tay song song về phía trước, các em tập hợp hàng dọc theo yêu cầu như: “Tập hợp theo thứ tự từ bé đến lớn”; “Tập hợp theo thứ tự từ lớn đến bé”, sau đó đổi các biển giữa hai đội rồi tiếp tục chơi.

7. Trò chơi: Giải đáp nhanh

  • Mục đích: Luyện kỹ năng tính nhẩm các phép tính cộng, trừ (tròn chục, tròn trăm, tròn nghìn), nhân chia trong bảng, rèn kỹ năng tính toán nhanh nhạy.
  • Chuẩn bị: Chọn 2 đội chơi, mỗi đội tự đặt tên (ví dụ Thỏ Trắng – Thỏ Nâu). Cử ban giám khảo, thư ký, các em còn lại cổ vũ cho đội mình.
  • Cách chơi: Chơi thi đua giữa hai nhóm. Đại diện 2 nhóm oản tù tì xem bên nào ra đề trước. Nhóm thứ nhất nêu một phép nhân, chia đã học hay một phép tính cộng trừ các số tròn chục, tròn trăm. Nhóm thứ hai trả lời kết quả (nếu nói sai thì khán giả được quyền trả lời). Sau khi trả lời, nhóm thứ hai nêu nhanh một phép tính khác yêu cầu nhóm thứ nhất trả lời. Tiến hành tương tự sau khoảng 5 phút thì dừng lại, ban thư ký tổng hợp xem hai nhóm có bao nhiêu kết quả đúng. Mỗi kết quả đúng ghi 10 điểm. Nhóm nào nhiều điểm sẽ thắng cuộc.

8. Trò chơi: Ai nhiều điểm nhất

  • Mục đích: Luyện tập củng cố kỹ năng cộng hai số có nhớ trong phạm vi 100. Tập cho học sinh cách đánh giá, cho điểm.
  • Chuẩn bị: 2 cây chậu cảnh có đánh số 1, 2; một số bông hoa bằng giấy màu cứng, mặt trước màu trắng ghi các phép tính; phấn màu; đồng hồ; chọn 3 học sinh khá nhất lớp làm giám khảo và thư ký.
  • Cách chơi: Chia lớp làm 2 đội. Khi nghe hiệu lệnh “bắt đầu”, lần lượt từng đội cử người lên bốc hoa trên bàn giáo viên, người chơi có nhiệm vụ làm nhanh phép tính ghi trên bông hoa, sau đó cài bông hoa lên cây của đội mình. Người này làm xong cài hoa lên cây thì lại đến lượt người khác. Cứ như vậy cho đến hết 2 phút. Sau khi giáo viên hô hết giờ thì 2 đội mỗi đội cử 1 đại diện lên đọc lần lượt từng phép tính trên cây của mình đồng thời giơ cho cả lớp xem bông hoa đó. Giám khảo đánh giá và thư ký ghi lại kết quả.

9. Trò chơi: Ong đi tìm nhụy

  • Mục đích: Rèn tính tập thể, giúp học sinh thuộc các bảng nhân, chia.
  • Chuẩn bị: 2 bông hoa 5 cánh (mỗi bông một màu, trên mỗi cánh hoa ghi các số, mặt sau gắn nam châm), 10 chú ong trên mình ghi các phép tính (mặt sau có gắn nam châm), phấn màu.
  • Cách chơi: Chọn 2 đội, mỗi đội 4 em. Giáo viên chia bảng làm 2, gắn mỗi bên bảng một bông hoa và 5 chú ong (không theo trật tự), đồng thời giới thiệu trò chơi. Khi nghe hiệu lệnh “bắt đầu”, lần lượt từng bạn lên nối các phép tính với các số thích hợp. Bạn thứ nhất nối xong phép tính đầu tiên, trao phấn cho bạn thứ 2 lên nối, cứ như vậy cho đến khi nối hết các phép tính. Trong vòng 1 phút, đội nào nối đúng và nhanh hơn là đội chiến thắng.

10. Trò chơi: Xây hàng rào

  • Chuẩn bị: Giáo viên vẽ hàng rào như chữ X, ghi các số theo quy luật (ví dụ: Tích hai số trái và phải bằng tổng của hai số trên và dưới).
  • Cách chơi: Ghi một số vào bên trái của hàng rào, ghi một số vào bên phải hàng rào, nhân hai số này lại. Ghi nhớ kết quả, nhẩm tính xem số trên và số dưới nào của hàng rào cộng lại bằng kết quả vừa tìm được, sau đó ghi hai số này vào bên trên và bên dưới hàng rào. Mỗi nhóm 3 em. Trong 2 phút nhóm nào xây nhiều hàng rào nhất và làm đúng kết quả là thắng cuộc.

11. Trò chơi: Điền số thích hợp

  • Chuẩn bị: Vẽ các vòng tròn nhỏ.
  • Cách chơi: Điền số từ 1 đến 7 vào các vòng tròn nhỏ sao cho tổng của ba số trên cùng một vạch thẳng đều bằng nhau. Chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm 4 em. Mỗi nhóm điền số vào bảng con, trong 5 phút nhóm nào điền đúng được nhiều bảng có tổng khác nhau hơn là thắng.

12. Trò chơi: “Tung xúc xắc”

  • Mục đích: Giúp học sinh nắm vững khái niệm, cách đọc, viết, cấu tạo phân số và so sánh sắp thứ tự phân số. Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, trí thông minh sáng tạo.
  • Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị 2 con xúc xắc bằng gỗ trên các mặt có ghi các số trong phạm vi từ 1 đến 9. Học sinh chuẩn bị giấy nháp và bút để ghi.
  • Cách chơi: Chơi theo nhóm, gồm 4 nhóm, mỗi nhóm 3 học sinh, cả 4 nhóm đứng thành hàng đối diện quan sát kết quả thầy giáo tung xúc xắc 3 lần liên tiếp. Các nhóm có thể phân công nhau ghi kết quả từng lần tung. Sau đó có 5 phút để: Viết các phân số sau mỗi lần tung. So sánh và sắp thứ tự các phân số sau từng lần tung. So sánh và sắp thứ tự các phân số cả nhóm đã viết được. GV cùng cả lớp sẽ làm trọng tài kiểm tra 4 nhóm.

Tiếng Việt

1. Trò chơi: “Tôi cần…”

  • Mục tiêu: Hiểu nghĩa của từ để ghép đúng tranh, rèn luyện sự nhanh nhạy, tự tin.
  • Chuẩn bị: Một số tranh (ảnh) các con vật, một số thẻ từ (ghi sẵn).
  • Cách chơi: Phát tranh và thẻ từ cho các nhóm. Nêu yêu cầu các nhóm thi đua ghép các tranh (ảnh) với các từ tương ứng. Nhóm nào ghép đúng và nhanh hơn thì thắng cuộc.

2. Trò chơi: “Ai tinh mắt?”

  • Mục đích: Giúp học sinh nhìn, nhận diện và phát hiện được các chữ cái, các tiếng có chứa các dấu thanh (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng); phân biệt được chữ cái này với các chữ khác có nét gần giống; phân biệt được dấu thanh này với các dấu có nét gần giống.
  • Chuẩn bị: Cờ hiệu 3 cái. Bảng cài lớn 1 bảng. Bảng cài nhỏ 3 bảng. Thẻ chữ 24 thẻ. Chữ ghi (các chữ cái hoặc dấu thanh).
  • Luật chơi: Chọn thẻ được ghi chữ cái (hoặc dấu thanh) giữa các thẻ mang chữ gần giống. Gắn được vào bảng cài của đội thẻ ghi chữ cái đó. Khi lên tìm thẻ chữ, từng học sinh trong nhóm chơi, tay cầm cờ hiệu, chạy lên bảng cài lớn, chọn thẻ có ghi chữ cái đúng, cầm về gắn vào bảng cài của đội. Sau đó chuyển cờ hiệu cho người thứ hai. Người này thực hiện tiếp công việc. Cứ thế cho đến hết. Đội nào xếp đủ, đúng, nhanh, đẹp 4 chữ vào bảng cài của đội là đội thắng cuộc.

3. Trò chơi: “Đọc tiếp sức”

  • Mục đích: Rèn kĩ năng đọc đúng và nhanh bài Tập đọc, luyện tác phong nhanh nhẹn, tập trung chú ý để phối hợp nhịp nhàng giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọc thành tiếng từng câu nối tiếp.
  • Chuẩn bị: Một đồng hồ (bấm thời gian chơi), chọn một học sinh làm trọng tài.
  • Chọn đội chơi: Chọn 3 đội chơi, mỗi đội có 5 em.
  • Tổ chức chơi: Các đội chơi lần lượt lên bảng đứng thành hàng ngang, quay mặt về phía các bạn; mỗi thành viên trong đội chơi cầm một quyển SGK đã mở sẵn (bài quy định sẽ đọc). Khi nghe lệnh trọng tài hô “bắt đầu”, người số 1 phải đọc câu thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh. Dứt tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, người số 2 mới được đọc tiếp câu thứ 2…cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm; nếu chưa hết bài, câu tiếp theo lại đến người số 1 đọc – người số 2 đọc…cho đến hết bài thì dừng lại. Trọng tài tính thời gian và ghi số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm. Trọng tài cùng các nhóm theo dõi bạn đọc cùng nhận xét và tính điểm “thi tiếp sức” như sau: mỗi câu văn đọc chính xác, đúng quy định được 1 điểm; không được tính điểm nếu vi phạm một rong các trường hợp sau: Đọc sai, lẫn hay thừa, thiếu tiếng trong câu. Đọc tiếp câu sau khi người đọc câu trước chưa xong. Đọc liền hai câu trở lên.

4. Trò chơi: Bingo

  • Mục đích: Củng cố, khắc sâu kiến thức, thu hút học sinh say mê học tập.
  • Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị đồ dùng.
  • Cách chơi: Chơi tựa như kiểu cờ ca rô. Giáo viên sẽ kẻ trên bảng 16 hay 20 ô vuông, gồm 4 ô hàng dọc, 5 ô hàng ngang và giáo viên điền vào đó 20 số bất kỳ, trong 20 số đó sẽ có 20 câu hỏi tương ứng được định sẵn theo nội dung của bài học. Giáo viên chia lớp thành 2 đội và quy định đội A đánh dấu X còn đội B đánh dấu O. Đầu tiên mỗi đội sẽ cử 1 bạn làm nhóm trưởng đại diện chọn ô số, giáo viên sẽ đánh dấu bằng ký hiệu của đội đó vào ô đấy, đồng thời đọc câu hỏi được định sẵn trong mỗi ô cho đội kia trả lời. Cuối cùng, đội nào chọn ô mà xếp được 3 ký hiệu của đội mình thẳng hàng thì hô thật to là Bingo.

5. Trò chơi: Slap blackboard (đập vào bảng)

  • Mục đích: Giúp học sinh luyện đọc và củng cố kỹ năng nghe lại từ đã học, cũng như có thể nhận diện mặt chữ. Luyện phản xạ nhanh cho các em.
  • Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất cứ đồ dùng nào.
  • Cách chơi: Giáo viên cho cả lớp ngồi trật tự tại chỗ, sau đó giới thiệu tên trò chơi và vẽ một số hình khác nhau lên bảng chẳng hạn như: hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật, hình thoi, hình ê líp,… Tiếp theo, giáo viên ghi lại một số từ mới vừa học vào các hình trên. Sau đó, giáo viên cho học sinh đứng trên bảng trong tư thế chuẩn bị. Giáo viên sẽ đọc lần lượt các từ mới. Học sinh đứng trước bảng, nghe giáo viên đọc và đập nhanh vào chữ đó.

6. Trò chơi: Lucky number (con số may mắn)

  • Mục đích: Tạo không khí hào hứng sôi nổi, cũng như luyện khả năng tập trung cao độ trong giờ học.
  • Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị sẵn một số câu hỏi, câu trả lời sao cho bám sát nội dung bài học và không cần phải chuẩn bị bất cứ đồ dùng nào.
  • Cách chơi: Giáo viên sẽ kẻ một bảng gồm 15 ô vuông và ghi vào đó 15 số tự nhiên bất kỳ, trong đó sẽ có 12 ô chứa câu hỏi để học sinh trả lời còn 3 câu là 3 con số may mắn gọi là Lucky number. Mỗi con số may mắn là một điểm 10 và không có câu hỏi.

Đạo Đức

1. Trò chơi: Ném bóng

  • Mục đích: Củng cố kiến thức đã học.
  • Luật chơi: Các nhóm đứng thành vòng tròn, bóng được truyền từ người này sang người khác một cách từ từ. Ai nhận được bóng phải hát, đọc thơ, kể chuyện về chủ đề thương binh, liệt sĩ cho cả lớp của mình nghe rõ. Cứ như vậy cho đến khi mọi người trong nhóm đều được nhận bóng và hát. Ai hát, múa, kể chuyện sai hoặc không hát, múa, kể chuyện được thì sẽ phải nhảy lò cò một vòng.
  • Tiến hành trò chơi: Giáo viên tổ chức cho một nhóm làm mẫu. Giáo viên rút kinh nghiệm và cho cả lớp tiến hành chơi thật. Giáo viên hô (có dự lệnh – động lệnh) “Trò chơi – Bắt đầu”. Giáo viên cùng trọng tài quan sát và điều chỉnh cho các nhóm hoạt động khẩn trương, đúng luật.

Lịch Sử

1. Trò chơi: Ô chữ kỳ diệu

  • Mục đích: Dùng để dạy các bài ôn tập, và các hoạt động củng cố cuối bài. Có thể sử dụng trong hoạt động khởi động. Phát triển óc thông minh, sự nhanh nhẹn, có khả năng phân tích, phán đoán. Kích thích hứng thú học tập của học sinh.
  • Chuẩn bị: Bảng phụ hoặc giấy rôki kẻ sẵn ô chữ đã định. Nội dung câu hỏi, câu trả lời.
  • Cách thực hiện: Sau khi giáo viên tổ chức hoạt động để tìm hiểu nội dung ôn tập, giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi này. Giáo viên chia lớp thành 2 – 4 đội (tùy vào số lượng học sinh). Giáo viên đưa ra ô chữ gồm hàng ngang và hàng dọc. Mỗi ô chữ hàng ngang là nội dung kiến thức đã học kèm theo lời gợi ý. Mỗi nhóm chơi sau khi nghe lời gợi ý xong suy nghĩ hội ý và phất cờ để giành quyền trả lời. Nhóm nào phất cờ trước, trả lời nhanh, đúng ghi được 10 điểm. Nhóm nào sai nhường quyền trả lời cho nhóm khác. Trong khi các nhóm trả lời giáo viên ghi lại các từ đó lên bảng để học sinh dưới lớp đối chiếu từ đó với ô chữ đã có và kiến thức đã học xem đã đúng chưa, nếu học sinh và giáo viên nhận xét đúng thì giáo viên ghi đáp án đó vào “Ô chữ kỳ diệu” Nhóm thắng cuộc là nhóm ghi được nhiều điểm nhất.

2. Trò chơi: Ghép từ

  • Mục đích: Dùng để dạy các loại bài có các hoạt động minh họa bằng hình hoặc bằng sơ đồ trong sách giáo khoa thuộc môn lịch sử. Củng cố kiến thức hiểu biết, sự nhanh nhẹn, thông minh, có kĩ năng tổng hợp thông tin thành chuỗi kiến thức liên hoàn.
  • Chuẩn bị: Các từ cần ghép thành sơ đồ của hoạt động dạy học (2 bộ từ).
  • Cách thực hiện trò chơi: Sau khi cho học sinh làm việc với kênh hình và kênh chữ trong sách giáo khoa, giáo viên có thể chia lớp thành 2 đội. Giáo viên phổ biến luật chơi, quy định thời gian một cách rõ ràng. Sau khi phổ biến luật chơi, cách chơi, giáo viên yêu cầu các nhóm lên thực hiện (hai đội cùng thực hiện với hai nhóm giấy bìa ). Học sinh lên thực hiện bằng cách thi tiếp sức, hai đội thi nhau ghép chữ và dùng mũi tên để biểu diễn thành một sơ đồ. Từng học sinh trong nhóm theo thứ tự lựa chọn từng thông tin trên mảnh giấy bìa để sắp xếp.

Địa Lý

1. Trò chơi: Ô chữ

  • Mục đích: Tạo hứng khởi học tập môn địa lý.
  • Chuẩn bị: Ô chữ có 9 hàng ngang và 1 ô hàng dọc.
  • Cách chơi: Chia lớp làm 2 đội A-B, mỗi đội lần lượt chọn ô chữ hàng ngang. Trong vòng 10 giây nếu trả lời đúng ghi được 10 điểm, nếu trả lời sai đội còn lại giành quyền trả lời. Đội nào đoán được ô chữ hàng dọc ghi được 30 điểm, nếu sai trò chơi sẽ tiếp tục cho đến khi tìm ra hết các từ hàng ngang. Đội nào ghi được nhiều điểm hơn sẽ giành chiến thắng.

Khoa Học

1. Trò chơi: Đoán con vật

  • Mục tiêu: Giúp học sinh nắm lại đặc điểm chính về sự sinh sản và nuôi con của động vật.
  • Tiến hành: Một học sinh được đeo hình vẽ của con vật ở sau lưng, em đó không biết đó là con gì nhưng cả lớp thì biết rõ. Học sinh đeo hình vẽ được đặt câu hỏi Đúng/Sai để đoán xem đó là con gì, cả lớp trả lời.
  • Ví dụ: Con này có bốn chân đúng hay sai? Con vật này ăn cỏ đúng hay sai? Nó sống thành bầy đúng hay sai? Con vật này đẻ trứng đúng hay sai? …Nếu học sinh đoán đúng con vật thì được khen, nếu sai sẽ bị phạt.

2. Trò chơi: Đố bạn hoa gì? (Các bài sự sinh sản ở thực vật có hoa).

  • Mục tiêu: Giúp học sinh phân biệt được hoa đơn tính và hoa lưỡng tính.
  • Chuẩn bị: Học sinh chuẩn bị nhiều loại hoa đem đến lớp.
  • Tiến hành: Giáo viên chia lớp thành hai nhóm, các loại hoa học sinh sưu tầm được cắm vào hai lọ nhỏ, giáo viên hô “chuẩn bị” thì mỗi bạn cử ra hai bạn nhanh tay lên chọn hoa và xếp chúng thành hai loại hoa đơn tính và hoa lưỡng tính. Trò chơi diễn ra trong thời gian hai phút, nếu nhóm nào chọn được nhiều hoa và đúng thì nhóm đó thắng.

3. Trò chơi: Nên hay không nên. (Các bài về con người và môi trường.)

  • Mục tiêu: Giúp học sinh rèn luyện những kĩ năng phân biệt những việc không nên làm và nên làm của con người đối với môi trường.
  • Chuẩn bị: Sưu tầm một số tranh ảnh liên quan đến bài học.
  • Tiến hành: Chia lớp thành các nhóm bốn đến sáu em, phát cho mỗi nhóm bốn đến năm tranh giấy to và hồ dán. Các nhóm thảo luận và dán các tranh theo hai cột: Nên; Không nên. Nhóm nào dán nhanh, dán đúng, dán đẹp nhóm đó thắng.

Âm Nhạc

1. Trò chơi: Tập tầm vong

  • Tác dụng: Rèn luyện nhanh tay, tinh mắt, vui chơi, giải trí.
  • Chuẩn bị: Học sinh ngồi hoặc đứng vào nhau thành từng đôi một, 1 trong 2 em cầm một viên sỏi nhỏ hoặc viên bi hay mẫu tẩy, mẫu giấy co tròn. Nếu cả lớp thì để học sinh ngồi nguyên vị trí cũ, còn cô thay viên sỏi bằng cái kẹo hay quả mận.
  • Cách chơi: Giáo viên hô: “Chuẩn bị…bắt đầu” sau lệnh đó, học sinh cầm sỏi trong tay đưa ra sau lưng khéo léo nắm viên sỏi vào một trong hai tay rồi đưa hai tay về phía trước giả vờ như chuyển viên sỏi từ tay nọ sang tay kia đồng thời cả lớp hát bài Tập tầm vông.

2. Trò chơi: Hát nhanh hát chậm

  • Tác dụng: Qua kí hiệu tay của giáo viên, học sinh biết hát nhanh, hát chậm theo đúng hiệu lệnh.
  • Chuẩn bị : Một số bài hát đã học. Giáo viên chuẩn bị động tác tay chuẩn
  • Cách chơi: Giáo viên quy ước kí hiệu tay: Khi giáo viên guồng hai tay nhanh thì học sinh hát nhanh, guồng hai tay chậm thì học sinh hát chậm. Giáo viên bắt nhịp các bài hát đã học và hát theo kí hiệu tay của giáo viên.

Thể Dục

1. Trò chơi chạy tiếp sức

  • Chuẩn bị: Kẻ vạch xuất phát và vạch đích cách nhau 6 – 8m. Có thể thay vạch đích bằng 2 – 4 lá cờ nhỏ (tương đương với số tổ HS trong lớp), cờ nọ cách cờ kia 1 – 2m. Tập hợp học sinh trong lớp thành 2 – 4 hàng dọc sau vạch xuất phát, các tổ có số người bằng nhau.
  • Cách chơi: Khi có hiệu lệnh, các em số 1 của mỗi hàng chạy nhanh, vòng qua cờ rồi chạy về vạch xuất phát chạm tay bạn số 2, số 2 lại chạy như số 1 và cứ lần lượt như vậy cho đến khi hàng nào xong trước, ít phạm quy là thắng cuộc.

2. Trò chơi nhảy ô tiếp sức

  • Chuẩn bị: Kẻ một vạch chuẩn bị dài 4m, sau đó kẻ vạch xuất phát dài 4m, cách vạch chuẩn bị 1m. Từ vạch xuất phát về trước 0,6 – 0,8m kẻ hai dãy ô vuông, mỗi dãy 10 ô, mỗi ô có cạnh 0,4 – 0,6m. Cách ô số 10: 0,6m kẻ vạch đích dài 4m.
  • Cách chơi: Tập hợp lớp thành 2 hàng dọc. Khi có lệnh, các em số 1 bật nhảy bằng hai chân vào ô số 1, sau đó bật nhảy hai chân vào ô số 2 và 3, nhảy chụm chân vào ô số 4 và cứ lần lượt nhảy như vậy cho đến đích, thì quay lại, chạy về vạch xuất phát đưa tay, chạm tay bạn số 2. Bạn số 2 bật nhảy như bạn số 1 và cứ lần lượt (lượt đi bật nhảy, lượt về thì chạy) như vậy cho đến hết, hàng nào xong trước, ít phạm quy là thắng cuộc.

3. Trò chơi nhảy đúng nhảy nhanh

  • Chuẩn bị: Kẻ 2 ô vuông lớn, mỗi ô có cạnh 1m, rồi chia thành 4 ô nhỏ mỗi ô có cạnh 0,5m và đánh số. Kẻ 2 vạch chuẩn bị và xuất phát cách nhau 1m. Cách vạch xuất phát 0,5m, kẻ ô số 1. Tập hợp học sinh thành 2 hàng dọc sau vạch chuẩn bị.
  • Cách chơi: Lần lượt từng em, bật nhảy bằng hai chân vào ô số 1, sau đó bật nhảy chân trái vào ô số 2, rồi bật nhảy chân phải vào ô số 3, nhảy chụm chân vào ô số 4, tiếp theo bật nhảy bằng hai chân ra ngoài. Em số 1 nhảy xong đến số 2 và cứ lần lượt như vậy cho đến hết.

Hy vọng danh sách các trò chơi học tập thú vị này sẽ giúp ích cho quý thầy cô và các bậc phụ huynh trong việc tạo hứng thú học tập cho các em học sinh tiểu học. Chúc các em học tập thật tốt!