Thành ngữ, tục ngữ là kho tàng văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam, đúc kết kinh nghiệm sống và triết lý nhân sinh từ bao đời nay. Chúng không chỉ làm phong phú thêm ngôn ngữ mà còn là lăng kính phản chiếu tâm hồn và bản sắc văn hóa Việt. Bài viết này sẽ đi sâu vào giải thích ý nghĩa của một số thành ngữ, tục ngữ quen thuộc, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về giá trị và vẻ đẹp của chúng.
Đèo heo hút gió
Con cà con kê
Có công mài sắt, có ngày nên kim
Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào
Chạy như cờ lông công
Cạn tàu ráo máng
Ăn ốc nói mò
Sống để dạ chết mang theo
Cà cuống chết đến đít còn cay
Ba chìm bảy nổi
Thành ngữ “ba chìm bảy nổi” dùng để chỉ những người có cuộc đời long đong, lận đận, trải qua nhiều thăng trầm và khó khăn. Ví dụ: “Cái con người hai mươi chín mới nói chuyện vợ con đã ba chìm bảy nổi vì nghèo khổ” (Nguyễn Thế Phương, “Đi bước nữa”).
Thành ngữ này được cấu tạo từ hai vế đối nhau: “chìm” và “nổi”, “ba” và “bảy”. “Chìm” và “nổi” là hai động từ trái nghĩa, biểu thị sự thay đổi trạng thái liên tục. “Ba” và “bảy” là hai số đếm, tượng trưng cho số lượng nhiều, không cụ thể.
Ý nghĩa của thành ngữ này là dù trải qua bao nhiêu khó khăn, thăng trầm, người ta vẫn phải cố gắng vươn lên, không được đầu hàng số phận. Ngoài ra, “ba chìm bảy nổi” còn có các biến thể như “bảy nổi ba chìm” hoặc “ba chìm bảy nổi chín (sáu) lênh đênh”.
Giàu vì bạn, sang vì vợ
Câu tục ngữ này đề cao vai trò của bạn bè và người bạn đời trong cuộc sống của mỗi người. “Giàu vì bạn” ý chỉ sự giúp đỡ, hỗ trợ từ bạn bè có thể mang lại thành công và giàu có. “Sang vì vợ” ý chỉ người vợ hiền đức, đảm đang sẽ giúp gia đình hạnh phúc, sung túc và có địa vị trong xã hội.
Chim sa cá lặn
Cái tổ con chuồn chuồn
Chờ được mạ, má đã sưng
Bợm già mắc bẫy cò ke
Bá Nha – (Chung) Tử Kỳ
Bầu dục chấm mắm cáy
Áo vải, cờ đào
Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng
Áo gấm đi đêm
Ăn cháo đái bát
Chân nam đá chân chiêu
Bóc ngắn cắn dài
Lá lành đùm lá rách
Cõng rắn cắn gà nhà
Được voi đòi tiên
Ăn vóc học hay
Vụng chèo khéo chống
Nhạt phấn phai hương
Rau muống tháng 9 nhịn cho mẹ chồng
Ếch ngồi đáy giếng
Cú kêu cho ma ăn
Ăn chay niệm phật nói lời từ bi
Vàng thau lẫn lộn
Năm tao bảy tuyết
Có nếp có tẻ
Nước mắt cá sấu
Tức nước vỡ bờ
Thả mồi bắt bóng
Tứ cố vô thân
Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng
Thua keo này bày keo khác
Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
Ướt như chuột lột
Bóng chim tăm cá
Như nước đổ đầu vịt
Kẻ tám lạng người nửa cân
Trộm cắp như rươi
Một nắng hai sương
Mạt cưa mướp đắng
Chó mái chim mồi
Máu ghen Hoạn Thư
Ma ăn cỗ
Nói có sách, mách có chứng
Xác như vờ, xơ như nhộng
Len lét như rắn mùng năm
Dốt có đuôi
Nợ như chúa Chổm
Tham bát bỏ mâm
Tấc đất cắm dùi
Hàng tôm hàng cá
Lời ong tiếng ve
Lệnh ông không bằng cồng bà
Sơn cùng thủy tận
Tha phương cầu thực
Rách như tổ đỉa
Rước voi giày mả tổ
Ba que xỏ lá
Ba hồn bảy vía – Ba hồn chín vía
Cáo mượn oai hùm
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn
Đồng không mông quạnh
Nói nhăng nói cuội
Chết đứng như Từ Hải
Đười ươi giữ ống
Hồn xiêu phách lạc
Nói toạc móng heo
Quýt làm cam chịu
Vừa ăn cướp vừa la làng
Trướng rủ màn che
Lo bò trắng răng
Nát như tương
Cửa Khổng sân Trình
Sức dài vai rộng
Tiền trảm hậu tấu
Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương
Bách phát bách trúng
Chén tạc chén thù
Ông chẳng bà chuộc
Kín cổng cao tường
Há miệng mắc quai
Oan Thị Kính
Lá mặt lá trái
Há miệng chờ sung
Gửi trứng cho ác
Giàu làm kép hẹp làm đơn
Đa nghi như Tào Tháo
Dở dở ương ương
Thoả chí tang bồng
Niêu cơm Thạch Sanh
Như vợ chồng sam
Chết đuối vớ được cọc
Chữ như gà bới
Ốc không nổi mình ốc lại mang cọc cho rêu
Ông Tơ bà Nguyệt
Cốc mò cò xơi
Mưa không khắp
Một miệng thì kín, chín miệng thì hở
Mất bò mới lo làm chuồng
Lừa ưa nặng
Một nghề thì sống đống nghề thì chết
Mèo già hóa cáo
Lươn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm
Tham thì thâm
Như vợ chồng ngâu
Qua cầu rút ván
Xui nguyên giục bị
Lấy thúng úp voi
Chuồn chuồn đạp nước
Hằng hà sa số
Gan cóc tía
Một mất mười ngờ
Ruột để ngoài da
Phúc họa khó lường
Mũ ni che tai
Giậu đổ bìm leo
Chuột sa chĩnh gạo
Bàn tay có ngón ngắn ngón dài
Cá chậu chim lồng
Đẽo cày giữa đường
Yêu nên tốt, ghét nên xấu
Quạ nào mà chẳng đen đầu
Nằm gai nếm mật
Chắp cánh liền cành
Đứt đuôi con nòng nọc
Gương vỡ lại lành
Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo
Đồ Sở Khanh
Của ít lòng nhiều
Nước chảy chỗ trũng
Cha truyền con nối
Rồng đến nhà tôm
Môi hở răng lạnh
Muỗi đốt chân voi
Học vẹt
Văn hay chữ tốt
Ngang như cua
Nhanh như cắt
Mỗi cây mỗi hoa
Của người phúc ta
Tương cà gia bản
Thuốc đắng dã tật
Cháy nhà mới ra mặt chuột
Cá không ăn muối cá ươn
Cá hóa rồng
Cá chuối đắm đuối vì con
Lá thắm chỉ hồng
Bọ ngựa chống xe
Ăn lông ở lỗ
Bàn tay không che nổi mặt trời
Ngựa quen đường cũ
Tấc đất tấc vàng
Lòng vả cũng như lòng sung
Hồng nhan bạc mệnh
Đẹp như Tiên
Dốt hay nói chữ
Công cha nghĩa mẹ
Giật gấu vá vai
Đất có thổ công, sông có hà bá
Bán lợi mua danh
Bán trời không văn tự
Ăn mày đánh đổ cầu ao
Ăn như rồng cuốn
Ăn cơm chúa, múa tối ngày
Ăn chay niệm phật
Cháy nhà ra mặt chuột
Đục nước béo cò
Già đòn non nhẽ
Kết luận
Thành ngữ, tục ngữ là những viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa Việt Nam. Việc hiểu rõ ý nghĩa của chúng giúp chúng ta thêm yêu và trân trọng tiếng Việt, đồng thời rút ra những bài học quý giá cho cuộc sống. Hy vọng bài viết này đã mang đến cho bạn đọc những kiến thức bổ ích và thú vị về thành ngữ, tục ngữ Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
- Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang)
- Tục ngữ, thành ngữ Việt Nam (Vũ Dung)
- https://www.vtv.vn/
- https://thuvienanh.net/
- https://i.pinimg.com/
- https://static.vecteezy.com/
